Dành trọn tuổi xuân để giành lại độc lập, tự do cho đất nước, họ đã để lại một phần máu xương nơi chiến trường. Trở về với cuộc sống đời thường, dù cơ thể không còn lành lặn nhưng họ vẫn phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên cường vượt khó vươn lên.
Nữ thương binh một đời kiên trung
Với 75 tuổi đời, 54 tuổi Đảng, bà Trần Thị Nghị (ở thôn 3, xã Krông Bông) đã dành trọn tuổi thanh xuân để giữ đất, giữ làng và dành trọn cả cuộc đời giữ vẹn lời thề dưới lá cờ Đảng. Bà được xem là một “huyền thoại sống” của đội du kích xã Khuê Ngọc Điền năm xưa.
Năm 1959, gia đình bà Nghị phải rời bỏ quê hương Thăng Bình (tỉnh Quảng Nam cũ) để vào lập nghiệp ở dinh điền Khuê Ngọc Điền theo âm mưu “tách cá ra khỏi nước” của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm hòng dễ bề kiểm soát những người có liên quan với cách mạng. Tuổi thơ của bà là chuỗi ngày chứng kiến bom rơi, đạn nổ, mọi sinh hoạt đi lại, làm rẫy của người dân đều dưới sự kiểm soát gắt gao của chính quyền Sài Gòn. Sau ngày dinh điền Khuê Ngọc Điền được giải phóng (tháng 2/1965), bà tham gia làm liên lạc cho cách mạng.
![]() |
| Bà Trần Thị Nghị kể về những năm tháng tham gia chiến đấu trong kháng chiến chống Mỹ. Ảnh: V. Tăng |
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, bà Nghị hòa nhập vào đoàn người trong đội cảm tử do Má Hai (Huỳnh Thị Hường) dẫn đầu đi đấu tranh chính trị tại thị xã Buôn Ma Thuột. Bà Nghị không may trúng đạn bị thương ở trán và bị địch bắt giữ, cùng thời gian này bà hay tin mẹ bà cũng bị bắt giữ ở một nơi khác sau khi bị thương. Vết thương không làm cô gái tuổi 16 khi ấy khiếp sợ mà ngược lại khiến cô thêm nung nấu ý chí quyết tâm đi theo con đường cách mạng đến cùng. Bằng sự tinh tường, mưu trí, bà Nghị đã dùng lời lẽ thuyết phục lừa địch để thoát thân trở về căn cứ.
Năm 1970, bà Nghị trở thành chính trị viên đội du kích xã Khuê Ngọc Điền. Trong bối cảnh quân địch thường xuyên càn quét, việc tổ chức và duy trì lực lượng vũ trang tại chỗ là vô cùng khó khăn, bà Nghị cùng đồng đội phải đối mặt với muôn vàn thử thách, không chỉ cầm súng bảo vệ vành đai căn cứ mà quan trọng hơn là giữ trận địa lòng dân. Giữa mưa bom, bão đạn, đói rét bủa vây, bà đã đi đến từng thôn làm công tác tư tưởng cho bà con nhân dân, khẳng định niềm tin vào ngày đại thắng. Nhờ vậy, đội du kích không những đánh giỏi mà còn bám sát dân, biến mỗi căn nhà, mỗi gốc cây thành một pháo đài vững chắc.
Là chính trị viên nhưng bà Nghị có tài thiện xạ nên bà được giao là xạ thủ chủ lực trong nhiều trận phục kích quan trọng, huấn luyện kỹ năng bắn súng và chiến đấu du kích cho những đội viên khác, góp phần củng cố sức mạnh của lực lượng vũ trang địa phương… Với khẩu súng AK do Tỉnh đội Đắk Lắk tặng, bà đã lập nhiều chiến công.
Sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, rời tay súng trở về cuộc sống đời thường, bà Nghị tiếp tục tham gia nhiều công tác ở địa phương. Với uy tín và năng lực của mình, bà được tín nhiệm giao phó nhiều trọng trách từ Phó Bí thư rồi đến Bí thư Chi bộ thôn, Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh thôn… Ở cương vị nào, bà cũng phát huy tinh thần “miệng nói, tay làm”, “đi từng ngõ, gõ từng nhà” tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gương mẫu đi đầu trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo cũng như phong trào xây dựng nông thôn mới ở địa phương…
Người thương binh vượt khó làm giàu
Sinh ra và lớn lên tại huyện Đức Thọ cũ (Hà Tĩnh), năm 1977 ông Nguyễn Hy Vọng lên đường nhập ngũ tại Sư đoàn 7, Quân đoàn 4.
Sau khi được huấn luyện tại Tân Kỳ, năm 1978 ông Vọng được điều vào chiến đấu tại mặt trận phía Nam (Tây Ninh) khi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (1975 - 1979) đang bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Mặc dù phải đối mặt với bao khó khăn, địa hình đầm lầy hiểm trở, đặc biệt là sự tàn bạo của tập đoàn Pol Pot, ranh giới sống, chết chỉ trong gang tấc nhưng ông Vọng và đồng đội luôn mưu trí, dũng cảm chiến đấu đập tan nhiều đợt tấn công quy mô lớn của địch với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.
Trong các trận chiến đó, ông Vọng ba lần bị thương và năm 1982 được xuất ngũ trở về địa phương, với tỷ lệ thương tật 3/4.
![]() |
| Thương binh Nguyễn Hy Vọng vẫn ngày ngày lao động, chăm sóc vườn cà phê. Ảnh: T. Ninh |
Thấm nhuần lời dạy của Bác “Thương binh tàn nhưng không phế” và phát huy truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, trở về với đời thường, ông Vọng tiếp tục tham gia hoạt động xã hội ở địa phương.
Năm 1985, ông Vọng cùng gia đình chuyển vào sinh sống lập nghiệp tại Nông trường Cà phê Krông Jing (huyện M’Drắk cũ). Cuộc sống mới không dễ dàng với những vết thương luôn hành hạ trong những ngày trái gió trở trời nhưng với ý chí, nghị lực của người lính Bộ đội Cụ Hồ không chịu lùi bước trước khó khăn, ông Vọng động viên vợ con tính cực lao động, sản xuất, tìm tòi mô hình canh tác.
Đất không phụ lòng người, nhờ tích cực học hỏi và áp dụng khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, sản xuất, kinh tế của gia đình thương binh Nguyễn Hy Vọng ngày càng khấm khá. Ông từng được tỉnh chọn tham dự tại Hội nghị biểu dương người có công với cách mạng tiêu biểu toàn quốc.
Không những làm kinh tế giỏi, ông Vọng còn tích cực tham gia công tác xã hội: 9 năm làm đội trưởng đội sản xuất tại Nông trường Cà phê Krông Jing, hơn 20 năm làm Bí thư Chi bộ thôn, cán bộ Văn phòng Đảng ủy, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội Nông dân xã Ea Lai cũ (nay là xã M’Drắk). Ở vị trí nào, ông Vọng cũng đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Năm nay, ông Vọng bước sang tuổi 70, đời sống ổn định, các con đều đã trưởng thành nhưng ông vẫn tích cực lao động sản xuất. Với diện tích 1,5 ha đất, ông trồng xen canh cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và kết hợp chăn nuôi... cho hiệu quả kinh tế cao. Chỉ tính riêng năm 2025, gia đình ông thu trên 400 triệu đồng và là một trong những hộ có năng suất cà phê cao nhất trên địa bàn.
Viết Tăng – Tiến Ninh


