Báo Đắk Lắk điện tử
.

(E-Magazine) Mở rộng không gian tăng trưởng cho nông nghiệp Đắk Lắk - Kỳ 1: “Đánh thức” dư địa từ những lợi thế khác biệt

11:31, 13/09/2026
 

Trong bối cảnh Đắk Lắk đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, ngành Nông nghiệp và Môi trường đứng trước yêu cầu phải chuyển mình mạnh mẽ từ tư duy đến hành động. Để làm được điều này, ngành đang tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn, đồng thời kiến tạo một hệ sinh thái phát triển mới dựa trên khoa học công nghệ, kinh tế xanh và chuỗi giá trị hiện đại.

 

 

 

Không chỉ sở hữu vùng sản xuất rộng lớn, hệ sinh thái nông - lâm - thủy sản đa dạng, Đắk Lắk còn hình thành hành lang kết nối từ Tây Nguyên xuống biển, mở ra chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất, chế biến đến xuất khẩu. Trong bối cảnh cả nước hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, những lợi thế ấy đang trở thành nền tảng để Đắk Lắk kiến tạo một cực tăng trưởng nông nghiệp mới.

 

 

 

Xét về quy mô và năng lực sản xuất, Đắk Lắk đang nắm giữ những dư địa nông nghiệp thuộc nhóm đầu cả nước. Toàn tỉnh có gần 5.400 km2 đất bazan màu mỡ, quy hoạch ổn định hơn cho khoảng 309.384 ha cây công nghiệp, 79.075 ha cây ăn quả. Ngoài ra, Đắk Lắk còn có 454.596 ha cây hằng năm, trong đó lúa nước định vị được lợi thế về năng xuất, chất lượng đạt cao, với 171.637 ha, sản lượng đạt gần 1,3 triệu tấn, dẫn đầu khu vực Tây Nguyên. Ở lĩnh vực chăn nuôi, tổng đàn gia súc, gia cầm hơn 22,7 triệu con đang tạo ra một dư địa chế biến sâu rất lớn.

 

Đặc biệt, lĩnh vực trồng trọt, thế mạnh nổi trội của Đắk Lắk được định hình rõ nét nhất qua hai mũi nhọn chiến lược: cà phê và sầu riêng. Với quy mô hơn 217.000 ha, sản lượng 595.156 tấn, ngành hàng cà phê Đắk Lắk đã dịch chuyển mạnh mẽ từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, khẳng định thương hiệu tại các cuộc thi chất lượng quốc tế lớn như "Vietnam Amazing Cup".

 

Chế biến cà phê chất lượng cao để gia tăng giá trị sản phẩm ở Đắk Lắk.
Chế biến cà phê chất lượng cao để gia tăng giá trị sản phẩm ở Đắk Lắk.

 

Hiện nay, cà phê của Đắk Lắk xuất khẩu đến 70 thị trường quốc tế, riêng Chỉ dẫn địa lý Cà phê Buôn Ma Thuột được bảo hộ ở 32 quốc gia và vùng lãnh thổ. Sự ổn định về năng suất, chất lượng dựa trên lợi thế thổ nhưỡng bazan giúp cà phê duy trì vai trò cốt lõi trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.

 

Trong khi đó, quả sầu riêng nổi lên như một hiện tượng với sự tăng trưởng nhanh với quy mô hơn 41.000 ha, đóng vai trò mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị thặng dư cao bậc nhất. Việc sầu riêng Đắk Lắk chiếm lĩnh thị trường quốc tế là minh chứng cho thấy năng lực đáp ứng các vùng chuyên canh quy mô lớn, kỹ thuật thâm canh cao của người nông dân và hệ thống doanh nghiệp trên địa bàn.

 

Sự kết hợp giữa kinh tế vùng cao nguyên và không gian biển mới mở rộng với bờ biển dài 189 km, diện tích vùng đặc quyền kinh tế trên 34.000 km2 tạo ra thế chân kiềng vững chắc cho trục “rừng - biển”. Ngoài 46.225 ha mặt nước nội địa, hệ thống vũng, vịnh, đầm phá ven biển là cơ sở để quy hoạch các vùng nuôi hải sản giá trị cao như cá ngừ đại dương, tôm hùm, tôm thẻ. Đây không thuần túy là phép cộng về địa lý, mà là sự thay đổi căn bản về cấu trúc logistics và năng lực thương mại quốc tế của nông sản địa phương.

 

Giai đoạn 2020 - 2025, tốc độ tăng trưởng GRDP ngành nông, lâm, thủy sản bình quân đạt 5,24%/năm. Tỷ trọng của khu vực này trong cơ cấu kinh tế tăng trưởng ổn định từ gần 33% năm 2020 lên khoảng 34,52% năm 2025.

 

Chăn nuôi quy mô trang trại ở Đắk Lắk.

 

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đặng Thị Thủy, sự hội tụ giữa tiềm năng cao nguyên và giá trị đặc thù của vùng biển là điều kiện cốt lõi để tạo ra một cực tăng trưởng mới. Dư địa phát triển không còn nằm ở việc mở rộng diện tích mà nằm ở khả năng tích hợp chuỗi giá trị: liên kết giữa nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và hệ thống cảng biển, logistics dịch vụ để tối ưu hóa chi phí xuất khẩu.

 

 

 

Mục tiêu năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường là đạt tốc độ tăng trưởng từ 5,86% trở lên, đưa quy mô sản xuất đạt khoảng 94.345 tỷ đồng. Để đạt được con số này, Đắk Lắk đã chủ động bóc tách các chỉ tiêu tăng trưởng theo từng quý dựa trên chu kỳ sinh học và mùa vụ của từng ngành hàng, khắc phục tình trạng phân bổ dàn trải trước đây. Lĩnh vực trồng trọt tập trung điểm rơi vào Quý III và IV - mùa thu hoạch sầu riêng, cà phê; trong khi tăng trưởng thủy sản và biển đảo dồn lực vào các quý II, III và IV khi thời tiết trên biển thuận lợi.

 

Về lâu dài, tác động chuyển dịch cơ cấu sẽ đi theo hướng giảm dần tỷ trọng trồng trọt thuần túy, tăng mạnh tỷ trọng chăn nuôi công nghệ cao, lâm nghiệp bền vững và kinh tế biển. Với tổng đàn vật nuôi khổng lồ đạt 22,7 triệu con, tỉnh đã thu hút được 66 dự án chăn nuôi quy mô lớn với tổng vốn đầu tư trên 10.000 tỷ đồng. Đây là nguồn lực thực tế để thay đổi phương thức sản xuất từ manh mún, nhỏ lẻ sang chuỗi giá trị khép kín.

 

Nông dân Đắk Lắk thu hoạch sầu riêng.
Nông dân Đắk Lắk thu hoạch sầu riêng.

 

Cơ hội cũng lớn hơn khi các hiệp định thương mại tự do và các nghị định thư xuất khẩu chính ngạch ký kết với các thị trường lớn đi vào thực thi sâu rộng. Đối với nhóm cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng…, việc mở cửa thị trường chính ngạch mở ra cơ hội gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu lên hàng tỷ USD, kết nối trực tiếp chuỗi cung ứng toàn cầu. Ở lĩnh vực thủy sản, việc làm chủ không gian biển rộng lớn và hàng trăm hồ chứa nội địa mang lại cơ hội xây dựng ngành công nghiệp nuôi trồng, chế biến thủy hải sản công nghệ cao, hướng mạnh vào phân khúc xuất khẩu hải sản giá trị lớn như cá ngừ và tôm hùm.

 

 

Trong thời gian tới, việc tham gia vào thị trường tín chỉ carbon từ hơn 780.000 ha đất có rừng (trong đó có 537.000 ha rừng tự nhiên) sẽ tạo ra một tác động chuyển đổi mang tính chiến lược. Đây còn là cơ chế tài chính xanh, giúp thương mại hóa giá trị của tài nguyên rừng, tạo sinh kế bền vững và tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế theo hướng tăng trưởng bao trùm.

 

Khu vực nuôi trồng thủy sản của Vịnh Xuân Đài.
Khu vực nuôi trồng thủy sản của Vịnh Xuân Đài.

 

Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn với những rào cản kỹ thuật khắt khe như: quy định chống mất rừng (EUDR) của EU, yêu cầu kiểm soát mã số vùng trồng và tiêu chuẩn an toàn sinh học nghiêm ngặt của Nghị định số 280 từ phía Trung Quốc… Trong khi đó, thực trạng sản xuất vẫn còn những phân khúc phân tán, quy mô manh mún, đất đai nhỏ lẻ và việc quản lý mã số vùng trồng có nơi chưa theo kịp tốc độ phát triển.

 

Đối với lĩnh vực thủy sản, thách thức nằm ở hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá, đầm vịnh chưa đồng bộ; tình trạng ô nhiễm môi trường nước cục bộ tại các khu vực chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản đang xuất hiện; cùng với áp lực khắt khe từ các quy định quốc tế về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

 

Kỳ 2: Gam màu sáng trong bức tranh tăng trưởng hai con số

Nội dung: Minh Thuận - Minh Thông

Trình bày: Công Định


Ý kiến bạn đọc