Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI
Hoàn thiện quy định giải trình, xử lý đến cùng vi phạm hành chính

Chiều 4/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI các đại biểu thảo luận tại hội trường về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).

Đóng góp ý kiến xây dựng dự án luật, các đại biểu thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh kiến nghị hoàn thiện quy định về xác minh tình tiết vụ việc, quyền giải trình của đối tượng vi phạm, trách nhiệm thi hành biện pháp khắc phục hậu quả đến cùng cũng như bổ sung tình tiết tăng nặng đối với hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả.

Bảo đảm thực chất quyền giải trình

Góp ý về quy định xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính tại Điều 47 dự thảo luật, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh chỉ rõ, dự thảo quy định việc xác minh tình tiết có thể được thực hiện ở các bước trước hoặc sau khi lập biên bản vi phạm hành chính.

Tuy nhiên, từ thực tiễn áp dụng hiện nay, người có thẩm quyền trước khi lập biên bản vi phạm hành chính thường tiến hành lập biên bản làm việc để xác minh, thu thập thông tin bước đầu làm căn cứ xác định hành vi. Do đó, việc lập biên bản xác minh tình tiết vụ việc trước khi lập biên bản vi phạm hành chính là không cần thiết.

Đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt phát biểu thảo luận tại nghị trường. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt phát biểu thảo luận tại nghị trường. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp

Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu chỉnh lý quy định này theo hướng chỉ lập biên bản xác minh tình tiết trong hai trường hợp cụ thể: Để sửa đổi biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 6 Điều 46 luật này; hoặc để làm rõ các tình tiết trong vụ việc vi phạm nếu không xác minh thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt. Việc thiết kế này sẽ tạo nên sự linh hoạt, thuận lợi hơn trong quá trình áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể.

Liên quan đến nội dung giải trình quy định tại Điều 50 dự thảo luật, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt nêu hai vấn đề bất cập cần được hoàn thiện.

Thứ nhất, dù dự thảo đã quy định người có thẩm quyền phải gửi thông báo về việc thực hiện quyền giải trình và tính thời hạn giải trình từ ngày nhận được thông báo, song văn bản lại chưa quy định cụ thể hình thức gửi cũng như cách xác định thời điểm nhận thông báo, trong khi các hình thức gửi quyết định xử phạt tại Điều 59 lại được quy định rất chi tiết.

Khoảng trống pháp lý này có thể dẫn tới khó khăn trong việc xác định chính xác thời hạn giải trình, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức liên quan, vì vậy cần được nghiên cứu bổ sung làm rõ. 

Vấn đề thứ hai liên quan đến quy định tại khoản 8 Điều 50, khi dự thảo chỉ cho phép người có thẩm quyền xem xét ý kiến giải trình của đối tượng vi phạm trong trường hợp chưa ban hành quyết định xử phạt.

Nhấn mạnh giải trình là quyền cốt lõi của cá nhân, tổ chức nhằm trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đại biểu cho rằng việc giới hạn quyền này theo thời điểm ban hành quyết định xử phạt có nguy cơ xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của đối tượng bị xử lý, nhất là khi thời hạn yêu cầu giải trình trực tiếp chỉ là 2 ngày làm việc, bằng văn bản là 5 ngày làm việc, trong khi thời hạn ban hành quyết định xử phạt có thể kéo dài từ 7 ngày làm việc đến 2 tháng.

Quang cảnh phiên làm việc. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp
Quang cảnh phiên làm việc. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp

Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung cơ chế tiếp nhận, xem xét ý kiến giải trình được gửi trong thời hạn luật định, kể cả trường hợp đã ban hành quyết định xử phạt, để làm cơ sở sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định khi có căn cứ, nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, hạn chế phát sinh khiếu nại, khởi kiện hành chính, giảm áp lực giải quyết tranh chấp cho cơ quan nhà nước.

Siết chặt chế tài đối với hành vi sản xuất hàng giả

Đóng góp ý kiến về các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điều 29, đại biểu Nguyễn Hoàng Giang, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo nhấn mạnh mục tiêu cao nhất của xử lý vi phạm hành chính không dừng lại ở việc phát hiện hay xử phạt bằng tiền, mà quan trọng hơn là phải chấm dứt hành vi, khắc phục triệt để hậu quả và khôi phục trật tự quản lý nhà nước.

Trong thực tiễn thời gian qua, vẫn còn tình trạng quyết định xử phạt đã ban hành, tiền phạt đã được nộp nhưng hậu quả vi phạm chưa được khắc phục, như: đất bị lấn chiếm chưa được trả lại, công trình trái phép chưa được tháo dỡ, rừng bị xâm hại chưa được phục hồi, nguồn gây ô nhiễm chưa được xử lý.

Những tồn tại này không chỉ làm giảm hiệu lực của pháp luật mà còn gây khó khăn cho công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân và việc khai thác các nguồn lực phát triển của địa phương.

Đại biểu Nguyễn Hoàng Giang phát biểu thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp
Đại biểu Nguyễn Hoàng Giang phát biểu thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp

Cho rằng xử lý vi phạm hành chính phải được thực hiện đến cùng, không để tình trạng xử phạt xong nhưng hậu quả vẫn còn nguyên, đại biểu kiến nghị sửa đổi Điều 29 nhằm cụ thể hóa trách nhiệm và tổ chức thi hành với tinh thần xử lý đến cùng. Trọng tâm là phải cụ thể hóa nghĩa vụ, nội dung khắc phục theo nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời hạn và rõ kết quả.

Các quyết định xử phạt cần xác định chi tiết phạm vi, diện tích, hiện trạng khôi phục hoặc các hạng mục buộc tháo dỡ, tránh quy định chung chung. Đồng thời, phân định rõ trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và tổ chức thi hành; đặc biệt đối với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần xác định rõ ràng cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp để khắc phục triệt để tình trạng đùn đẩy hoặc bỏ ngỏ việc tổ chức thi hành sau khi ban hành quyết định.

Về tình tiết tăng nặng tại Điều 10, đại biểu Nguyễn Hoàng Giang cho rằng, bên cạnh yêu cầu bảo đảm hậu quả vi phạm được khắc phục, việc áp dụng chế tài cũng phải phản ánh đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Đặc biệt, đối với sản xuất, kinh doanh hàng giả, mức độ nguy hiểm không chỉ phụ thuộc vào số lượng, giá trị hàng hóa mà còn phải được xem xét từ đặc tính, công dụng và nguy cơ gây hại của sản phẩm.

Dẫn chứng từ thực tiễn tại Tây Nguyên, đại biểu nêu rõ, hàng giả là phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng có thể gây thiệt hại lớn cho người sản xuất. Với những hộ gia đình phụ thuộc vào cà phê, hồ tiêu, sầu riêng, việc sử dụng phải vật tư nông nghiệp giả có thể làm giảm năng suất, mất mùa, gia tăng chi phí đầu tư, thậm chí gây ảnh hưởng lâu dài đến đất đai và môi trường.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 10 tình tiết tăng nặng: “Sản xuất, kinh doanh hàng giả thuộc nhóm hàng hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng hoặc môi trường, có nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng.”

Đồng thời, giao Chính phủ quy định tiêu chí xác định nhóm hàng hóa và mức độ nguy cơ gây hại trên cơ sở đặc tính, công dụng, kết quả kiểm nghiệm và đánh giá chuyên môn của cơ quan có thẩm quyền. Việc áp dụng phải có chứng cứ khách quan, bảo đảm không tính trùng với tình tiết đã được sử dụng để xác định hành vi vi phạm hoặc quyết định mức xử phạt.

Lan Anh
 

Ý kiến của bạn