Để tiếng cồng chiêng ngân vang giữa đại ngàn

Giữa nhịp sống hiện đại, nhiều nghệ nhân vẫn âm thầm "giữ lửa" cho buôn làng. Bởi họ hiểu rằng, muốn tiếng chiêng tiếp tục ngân vang qua hàng thế hệ, điều cần trao truyền không chỉ là nhịp điệu, mà là không gian văn hóa và ký ức ngàn đời của tổ tiên.

Trong căn nhà dài ở buôn Wiao (xã Krông Năng), nghệ nhân Y Wơn Niê bồi hồi nhớ về những ngày thơ bé được cùng cha mẹ tham gia các lễ hội của buôn làng. Mê đắm nhịp chiêng từ nhỏ, ông tự mày mò rồi được cha truyền dạy, trở thành nghệ nhân trẻ nhất buôn khi mới 15 tuổi. Nhưng câu chuyện của quá khứ càng rộn rã bao nhiêu, thực tại lại khiến ông trăn trở bấy nhiêu.

Nghệ nhân Y Wơn trải lòng: "Ngày trước, mỗi khi buôn làng có lễ hội, người già, người trẻ quây quần bên ché rượu cần, cùng đánh chiêng, múa xoang. Vậy mà giờ đây, nét sinh hoạt quen thuộc ấy đang dần mai một. Tôi chỉ sợ rồi đây chẳng còn ai nối nghiệp. Khi lớp người già nằm xuống, tiếng cồng chiêng cũng chỉ còn trong ký ức...".

Nghệ nhân xã Buôn Đôn diễn tấu cồng chiêng.

Ở buôn Cư Dluê (xã Hòa Phú), nghệ nhân Y Khiêm Êban cẩn trọng nâng niu 4 bộ cồng chiêng quý cùng hàng chục ché cổ, ghế kpan, nỏ, mác… những di vật gắn liền với bao thế hệ người Êđê. Ngày xưa, để sở hữu một bộ chiêng quý hay chiếc ché cổ phải đổi bằng hàng chục con trâu, con bò; đó là biểu tượng cho uy thế và niềm tự hào của cả dòng họ. Thế nhưng ở tuổi xế chiều, điều làm ông đau đáu nhất không phải là giá trị vật chất của những báu vật ấy, mà là nguy cơ đứt gãy mạch ngầm văn hóa. Ông luôn dặn dò con cháu: "Dù khó khăn đến đâu cũng không được bán đi một kỷ vật nào của tổ tiên. Bởi đó là hồn cốt vô giá, một khi đã mất đi thì vĩnh viễn không bao giờ tìm lại được".

Nỗi lo canh cánh của những người lớn tuổi không phải là vô cớ. Theo thống kê của Sở VH-TT&DL, từ năm 2011 đến nay, số lượng cồng chiêng trên địa bàn tỉnh đã giảm từ 2.307 bộ xuống còn 1.603 bộ. Không chỉ vật thể quý mất, mà không gian văn hóa cùng nét sinh hoạt gắn liền với tiếng chiêng cũng đứng trước nguy cơ mai một.

Ông Y Khiêm Êban (buôn Cư Dluê, xã Hòa Phú) nâng niu bộ chiêng quý của dòng tộc.

Ông Nguyễn Lê Vũ, Phó Giám đốc Sở VHTT&DL nhìn nhận: “Cuộc sống hiện đại có nhiều đổi thay, nhiều nghệ nhân am hiểu sâu về cồng chiêng, nghi lễ truyền thống chưa kịp truyền lại hết vốn quý cho thế hệ trẻ đã về với tổ tiên. Trong khi đó, lớp trẻ chưa thực sự mặn mà với văn hóa truyền thống. Một số gia đình vì hoàn cảnh đã bán cồng chiêng để lo cho cuộc sống...”.

 
"Giai đoạn 2026 - 2030, ngành VH-TT&DL tiếp tục duy trì, củng cố các đội chiêng, câu lạc bộ cồng chiêng hiện có; phấn đấu mỗi xã, phường có cộng đồng thực hành cồng chiêng duy trì ít nhất 1 đội chiêng hoặc câu lạc bộ hoạt động thường xuyên - Ông Nguyễn Lê Vũ
Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL.

Trăn trở bài toán khi không gian sinh hoạt cộng đồng ngày càng thu hẹp, việc cất giữ cồng chiêng hay di vật trong nhà dài thôi là chưa đủ. Điều cốt lõi là làm sao thổi lại "hơi thở" cho di sản, khơi dậy tình yêu và trách nhiệm nối nghiệp ở thế hệ trẻ. Chính vì vậy, suốt hơn hai thập kỷ qua, kể từ khi Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO vinh danh là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, tỉnh Đắk Lắk đã triển khai đồng bộ các giải pháp, từ khôi phục không gian diễn xướng, gắn bảo tồn với phát triển du lịch sinh thái - cộng đồng, mở lớp truyền dạy và phục dựng các nghi lễ cổ truyền.

Từ năm 2005 đến nay, toàn tỉnh đã cấp phát 214 bộ chiêng cùng hơn 1.100 bộ thổ cẩm cho các đội văn nghệ cơ sở; mở 26 lớp truyền dạy nghệ thuật truyền thống cho trên 600 học viên. Đặc biệt, để giữ lấy "linh hồn" của thanh âm, 4 lớp truyền dạy gò, chỉnh âm cồng chiêng đã được tổ chức, trao truyền kỹ thuật cho thế hệ kế cận. Song song đó, hơn 140 nghi lễ truyền thống gắn với cồng chiêng được phục dựng, duy trì trong cộng đồng...

Đánh giá về chặng đường đã qua, ông Nguyễn Lê Vũ, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL nhận định: "Công tác bảo tồn di sản văn hóa cồng chiêng đã có bước chuyển biến tích cực, quan trọng nhất là đã khơi dậy được niềm tự hào và hình thành nên lực lượng kế cận trong cộng đồng. Đến nay, toàn tỉnh thành lập được 481 đội chiêng, đội văn nghệ tại các buôn làng; khoảng 5.000 nghệ nhân, người thực hành biết diễn tấu thành thạo các bài chiêng truyền thống, trong đó có gần 1.000 nghệ nhân, người thực hành trẻ. Ngoài ra, có hơn 3.700 nghệ nhân đang nắm giữ các loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác...".

Một lớp dạy đánh cồng chiêng tại xã Hòa Sơn.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Sở VH-TT&DL, công tác này vẫn còn một vài điểm "chưa sáng", một số nơi hoạt động còn thiên về hội thi, liên hoan, trình diễn sự kiện chứ chưa trở thành nhịp sinh hoạt tự nhiên, thường xuyên tại buôn làng. Đội chiêng thành lập nhưng sinh hoạt chưa đều; các lớp truyền dạy mở ra nhưng thiếu khâu theo dõi, duy trì sau đào tạo. Đặc biệt, việc gắn bảo tồn với phát triển du lịch cộng đồng, tạo sinh kế bền vững cho người dân vẫn còn thiếu tính đồng bộ...

Do đó, cần phải chuyển mạnh từ bảo tồn theo sự kiện sang bảo tồn dựa vào cộng đồng, lấy thực hành thường xuyên làm tiêu chí đánh giá hiệu quả. Trọng tâm là triển khai hiệu quả Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐND ngày 26/5/2026 của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030.

Giai đoạn 2026 - 2030, ngành VHTT&DL tiếp tục duy trì, củng cố các đội chiêng, câu lạc bộ cồng chiêng hiện có; phấn đấu mỗi xã, phường có cộng đồng thực hành cồng chiêng duy trì ít nhất 1 đội chiêng hoặc câu lạc bộ hoạt động thường xuyên. Bên cạnh đó, tổ chức các lớp truyền dạy cồng chiêng, múa xoang, chỉnh chiêng, nhạc cụ truyền thống tại cộng đồng và trường học vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đổi mới liên hoan, hội thi, hội diễn cồng chiêng, hạn chế dàn dựng quá mức, sân khấu hóa làm mất bản chất sinh hoạt cộng đồng của di sản. Đồng thời, ngành sẽ tăng cường truyền cho thế hệ trẻ, tôn vinh nghệ nhân, tư liệu hóa tri thức dân gian, gắn bảo tồn với giáo dục, du lịch cộng đồng và sinh kế văn hóa theo hướng bền vững, không làm sai lệch bản chất di sản...

Thế Hùng

Ý kiến của bạn