Người đan ký ức làng quê

Một hôm đi chợ, giữa những nhộn nhịp người mua bán, ta bỗng tình cờ bắt gặp một dáng người nhỏ bé lọt thỏm giữa ngổn ngang hàng hóa, đang lom khom sửa soạn ra tấm bạt đầy những rổ, rá, dần, sàng, nơm, giỏ… tất cả đều đan bằng tre. Hình ảnh ấy bỗng nhiên lay động trong lòng ta như những con sóng.

Cụ già bán những đồ dùng bằng tre giữa phiên chợ hoàn toàn xa lạ. Ta chẳng biết tên tuổi, quê quán cụ ở đâu mà sao vẫn thấy ngờ ngợ như một bóng hình thân thương đã gặp từ lâu. Đó là ông ta, cha ta, những người đàn ông cần cù, chất phác, một đời gắn bó với lũy tre làng. Ta mường tượng thấy trong cái nắng lặng lẽ của buổi chiều quê, tiếng dao róc tre nghe “xoèn xoẹt” nơi góc sân nhà ai. Mùi tre tươi ngai ngái hòa trong gió, gợi lại bao ký ức xưa cũ. Ở đó, có những con người cần mẫn suốt đời bên khúc tre, nan nứa - những người đan ký ức làng quê.

Tre vốn dẻo dai như sức sống người dân quê. Mỗi cây tre già đi qua tay họ đều được cạo sạch, chẻ nhỏ, vót đều, rồi nâng niu đan nên những nong, nia, dần, sàng, thúng, mủng; khéo léo đục nên những giường, chõng, ghế, bàn; tỉ mẩn làm ra những giỏ, nơm đăng, đó… Đôi bàn tay rám nắng ấy vừa mạnh mẽ vừa tinh tế. Họ không chỉ “làm nghề” mà như đang thổi hồn vào từng nan tre, gửi gắm trong đó cả mùi khói bếp, giọt mồ hôi, và niềm tin vào mùa màng yên ấm.

Mỗi sản phẩm không chỉ là vật dụng sinh hoạt, mà còn là kết tinh của bao kinh nghiệm và tình yêu lao động. Bàn tay đan nan tre khéo léo như dệt nên từng nốt nhạc đồng quê - những nốt nhạc không lời nhưng sâu thẳm.

Người đan ký ức làng quê. Ảnh minh họa: Việt An
Người đan ký ức làng quê. Ảnh minh họa: Việt An

Ngày xưa cũ, hầu như bất cứ nhà nào ở làng quê trên gác bếp cũng có những nong, nia, dần, sàng, rổ dày, rá; trên gác chuồng trâu là những thúng, mủng, rổ thưa, nơm, đó, vó, đăng… tất tật các dụng cụ làm nông đến sinh hoạt đều được làm ra từ đôi bàn tay tài hoa của người dân quê.

Tôi vẫn nhớ hình ảnh mẹ ngồi bên chiếc dần, chiếc nia sàng sẩy gạo nếp trắng tinh mỗi mùa giáp Tết. Tôi nhớ hình ảnh của chị trĩu vai gánh phân chuồng bằng rổ thưa, gánh lúa từ sân phơi đi trả cho nhà người khi tháng ba ngày tám đã phải giá công. Tôi nhớ hình ảnh của cha đem nơm, đó đi ra phía ao làng trong mùa lụt để cải thiện bữa ăn. Hình ảnh của bà và những cụ già hàng xóm bên chiếc chõng tre nhà trầu, uống nước chè và những câu chuyện không đầu không cuối. Là hình ảnh của ta vác rá sang nhà hàng xóm vay gạo khi nhà không còn. Tre hiện diện trong từng nếp sống, làm nên linh hồn của mỗi mái nhà, mang theo hơi ấm của bàn tay người thợ quê.

Bắt gặp vô tình một hình ảnh thân thương ở buổi chợ, ta bỗng rưng rưng xúc động. Cụ là người chở theo ký ức - ký ức của những chiếc rổ tre mẹ vo gạo mỗi sớm mai, của chiếc nơm cha mang ra đồng buổi chiều lộng gió. Cái nghề của cụ, vừa là kế sinh nhai, vừa là sợi dây mỏng manh níu lại một thời mà tre là bạn, là mái nhà, là âm thanh của làng quê Việt. Trong từng vết chai sần trên tay, như ẩn giấu bao năm tháng đời người lặng lẽ nối mảnh tre này với mảnh tre kia, nối hôm qua với hôm nay.

Nay, giữa những phố thị sầm uất hay làng quê thời hội nhập, nghề đan lát thủ công đã dần lùi vào hoài niệm. Tre đã dần ít đi, nhường chỗ cho đường sá, công trình. Tiếng dao róc tre, tiếng nan cọ vào nhau hiếm dần. Những rổ ra, dần sàng, thúng mẹt… bằng tre dần thưa vắng, thay bằng nhựa, bằng inox, lạnh lẽo và vô hồn. Nhưng, trong tâm trí những người con xa quê, tiếng tre vẫn vang lên - mộc mạc, thân thương như lời ru của mẹ, như hơi thở của hồn đất, vị làng.

Thương cụ, xúc động trước hình ảnh vừa lạ vừa quen và cả thương cho cả ký ức tuổi thơ quê nghèo, ta ngồi xuống lựa vài món nhỏ xinh như chiếc rá, nia, nơm, đó về để treo trước mái hiên nhà. Nhìn chúng để nhắc nhớ một thời lam lũ của làng quê, tần tảo của mẹ cha, tình nghĩa của xóm làng. Nhìn chúng để nhắc nhớ những nan tre đan vào nhau không chỉ kết thành hình dáng của vật dụng, mà còn đan kết thành ký ức - những mảnh ghép bền bỉ của tuổi thơ và hồn quê.

Đinh Hạ

Ý kiến của bạn