Nhiều "nút thắt" cần gỡ

Sự thiếu hụt dữ liệu chuẩn hóa, điểm nghẽn kỹ thuật MRV và áp lực tài chính ban đầu đang là những "nút thắt" cần sớm tháo gỡ để thương mại hóa thành công tín chỉ carbon rừng.

Đưa chính sách ra thực địa

Để chuẩn bị cơ sở dữ liệu cho việc thẩm định các dự án carbon rừng, Chi cục Kiểm lâm đang chủ trì thực hiện dự án Điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn toàn tỉnh để xác định được toàn diện về hiện trạng diện tích rừng, trữ lượng rừng, trữ lượng carbon rừng và diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp chưa có rừng gắn với chủ quản lý trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đó, cập nhật, bổ sung, chuẩn hóa và hoàn thiện cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng, hồ sơ quản lý rừng, phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát về lâm nghiệp là cơ sở để theo dõi diễn biến rừng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.

Lực lượng kiểm lâm và người dân nhận khoán quản lý phối hợp tuần tra rừng tại Vườn quốc gia Yok Đôn.

Mặt khác, xác định rõ ràng, cụ thể diện tích rừng bị chồng lấn, tranh chấp về chủ quản lý, rừng nghèo kiệt phân bố manh mún trong vùng quy hoạch bố trí dân di cư tự do nhằm tạo thêm quỹ đất để triển khai cơ chế, chính sách về bố trí, ổn định dân cư, đặc biệt là chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo. Đây là tiền đề của tất cả các dự án carbon rừng trên địa bàn toàn tỉnh.

Theo Chi cục Kiểm lâm, hiện nay đơn vị cũng đang thực hiện dự án phân định ranh giới rừng nhằm rà soát, hệ thống hóa hồ sơ pháp lý về ranh giới đất và quyền sở hữu rừng, xử lý dứt điểm các ranh giới chồng lấn. Một dự án carbon chỉ có thể được phê duyệt khi quyền sở hữu tài sản xanh đó rõ ràng, không có tranh chấp. Chi cục cũng đang chủ động nghiên cứu quy trình, chuẩn bị hệ thống tiếp nhận, tham mưu thẩm định các văn kiện dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch UBND tỉnh nhằm đảm bảo thời gian xử lý hồ sơ nhanh nhất khi các dự án bắt đầu kích hoạt.

Nỗi lo thiếu hụt dữ liệu chuẩn

Mặc dù đã có sự chủ động, tuy nhiên trên thực tế, để hình thành dự án carbon rừng và tạo ra tín chỉ carbon cần đáp ứng nhiều yêu cầu về kỹ thuật và pháp lý. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), để một dự án carbon rừng được quốc tế công nhận, chủ rừng phải xây dựng thành công "đường cơ sở" phát thải, xác lập hệ thống Đo đạc - Báo cáo - Thẩm định (MRV), bảo đảm kiểm soát rò rỉ và rủi ro đảo ngược carbon. Đây là những yêu cầu vượt quá năng lực kỹ thuật và tài chính hiện tại của phần lớn đơn vị quản lý rừng tại địa phương.

Chỉ ra rào cản từ thực tế, ông Lê Minh Tiến, Giám đốc Vườn quốc gia Ea Sô chia sẻ: Vườn đang quản lý hơn 26.959 ha rừng, với 2.541,67 ha giao khoán cho 294 hộ dân, tiềm năng lưu trữ carbon là rất lớn. Tuy nhiên, khó khăn cốt lõi hiện nay là thiếu dữ liệu đường cơ sở, thiếu kinh phí và nhân lực chuyên môn để thiết lập hệ thống MRV. Đơn vị cần hỗ trợ kinh phí xây dựng dữ liệu đường cơ sở, đào tạo nhân lực, thí điểm tại các khu rừng có điều kiện phù hợp và bảo đảm cộng đồng tham gia bảo vệ rừng được hưởng lợi minh bạch, công bằng.

Tuần tra bảo vệ rừng ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin.

Theo Sở NN&MT, dù Chính phủ đã ban hành Nghị định 180 và Bộ NN&MT đã ban hành Thông tư hướng dẫn số 31/2026/TT-BNNMT để tạo khung hành lang lý thuyết, song khi áp dụng thực địa, cả chủ rừng lẫn cơ quan quản lý nhà nước đang đối mặt với những khó khăn lớn do thiếu hụt nghiêm trọng các thông tin và nguồn lực cốt lõi.

Để lập một biện pháp kỹ thuật carbon rừng, chủ rừng không thể dùng dữ liệu kiểm kê rừng thông thường mà phải có dữ liệu chi tiết về sinh khối, mật độ carbon của từng trạng thái rừng qua các năm để tính toán. Hiện nay, chúng ta đang thiếu một cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ số phát thải carbon đặc trưng cho từng loại rừng Tây Nguyên.

Việc tiếp cận ảnh vệ tinh độ phân giải cao, cập nhật theo thời gian thực vẫn là rào cản lớn vì chi phí quá cao, trong khi hệ thống theo dõi hiện tại chủ yếu dùng ảnh miễn phí, độ tin cậy ở quy mô cấp xã chưa cao. Chủ rừng muốn làm dự án không biết chính xác rừng của mình có bao nhiêu tấn carbon để chào bán.

Quy trình thiết lập một hệ thống MRV hay quy trình Đảm bảo chất lượng dữ liệu (QA/QC) theo tiêu chuẩn quốc tế cực kỳ tinh vi, phức tạp. Các chủ rừng của Đắk Lắk (đặc biệt là các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các công ty lâm nghiệp) đang thiếu trầm trọng các chuyên gia công nghệ viễn thám, chuyên gia kinh tế carbon. Chi phí thuê tư vấn quốc tế để lập hồ sơ, đo đạc độc lập rất lớn đối với các đơn vị chủ rừng đang sống dựa vào ngân sách hoặc đang gặp khó khăn tài chính.

Từ thực tế trên cho thấy, hành lang pháp lý đã mở cửa nhưng để triển khai vào thực tế, cả cơ quan nhà nước và chủ rừng đang phải đối mặt một bài toán kỹ thuật quá sức so với nguồn lực cả về kinh tế và nhân lực có trình độ chuyên môn phù hợp.

Thuận Nguyễn - Bảo Ngọc

Ý kiến của bạn