Vẫn còn 2.098 tàu mất kết nối VMS trên 6 giờ; 292 tàu mất kết nối trên 10 ngày và 189 tàu vượt ranh giới khai thác cho phép.
Tỷ lệ cập nhật hệ thống dữ liệu truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) chỉ đạt khoảng 70%; sản lượng thủy sản được kiểm soát qua hệ thống mới đạt khoảng 30% tổng sản lượng khai thác, ảnh hưởng đến việc cấp giấy chứng nhận nguồn gốc phục vụ xuất khẩu.
![]() |
| Ngư dân Đắk Lắk chuyển cá ngừ đại dương vào bến để cung cấp ra thị trường. |
Những con số đáng quan ngại này được đưa ra tại Phiên họp lần thứ 35 của Ban chỉ đạo quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) vừa được tổ chức. Điều này cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận ngư dân khi làm ăn trên biển vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của EC trong năm 2026.
Tỉnh Đắk Lắk hiện quản lý 2.596 tàu cá từ 6 m trở lên trên hệ thống cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia, 100% dữ liệu được đối soát, định danh đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (VNeID). Toàn bộ 691 tàu cá từ 15 m trở lên của tỉnh đã lắp đặt và vận hành VMS (đạt 100%). Tỷ lệ tàu cá còn hạn đăng kiểm đạt 99,61% và còn hạn giấy phép khai thác đạt 99,65%.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả đợt thanh tra lần thứ 5 (tháng 3/2026) của EC cho thấy, việc khai thác hải sản của Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại, chủ yếu nằm ở khâu tổ chức thực thi pháp luật trên thực địa. Đây là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mục tiêu gỡ cảnh báo “thẻ vàng”.
Để bảo đảm mục tiêu gỡ cảnh báo “thẻ vàng”, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần xác định giai đoạn từ nay đến ngày 31/8/2026 là thời gian cao điểm. Kết quả gỡ cảnh báo “thẻ vàng” phụ thuộc trực tiếp vào hiệu quả tổ chức thực thi pháp luật, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị với tinh thần “làm thật, xử lý thật, chịu trách nhiệm thật và tạo chuyển biến thật”.
Phát triển kinh tế biển nói chung và ngành thủy sản nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế đất nước, trong đó có tỉnh Đắk Lắk. Trong nhiều năm qua, ngành thủy sản đã đóng góp lớn cho tăng trưởng và xuất khẩu, đồng thời tạo sinh kế cho hàng triệu ngư dân vươn khơi bám biển. Tuy nhiên, sau 8 năm kể từ khi EC áp dụng cảnh báo “thẻ vàng”, công tác chống khai thác IUU của Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Đó là công tác lãnh đạo, chỉ đạo ở một số địa phương chưa quyết liệt, còn tình trạng làm cầm chừng, đối phó. Quy trình xử lý tàu cá vi phạm chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ và chưa quyết liệt; một số địa phương có hồ sơ vi phạm nhưng chưa tổ chức xử lý dứt điểm. Công tác truy xuất nguồn gốc chưa được triển khai đồng bộ, đặc biệt trong quản lý tàu cá ra, vào cảng và nhật ký khai thác. Việc quản lý, theo dõi các tàu cá không đủ điều kiện hoạt động, nhất là nhóm tàu “3 không” (không đăng ký, không đăng kiểm và không có giấy phép khai thác thủy sản) còn nhiều hạn chế. Cơ sở dữ liệu nghề cá chưa đồng bộ, việc kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương còn thiếu hiệu quả…
Từ những hạn chế nêu trên, đòi hỏi chúng ta sớm xây dựng nền tảng quản lý nghề cá thống nhất trên toàn quốc; có giải pháp khắc phục triệt để các khuyến nghị của EC; tập trung xử lý dứt điểm những tồn tại, nhất là các vụ việc vi phạm phát sinh; tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện ngay tại cơ sở. Đối với các trường hợp mất kết nối VMS, phải xác định rõ nguyên nhân, phân biệt lỗi kỹ thuật và hành vi cố tình vi phạm. Những trường hợp cố ý ngắt kết nối để khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài phải xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.
Dồn sức gỡ “thẻ vàng” vào cuối năm nay không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của EC, mà còn hướng tới xây dựng ngành thủy sản phát triển bền vững, hiện đại và có trách nhiệm. Và lâu dài, Việt Nam cần xây dựng chiến lược phát triển thủy sản bền vững trên cơ sở Nghị quyết mới về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vừa được Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, trong đó tập trung tổ chức lại sản xuất từ con giống, khai thác, nuôi trồng, chế biến đến xuất khẩu; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong phát triển kinh tế biển và nâng cao sinh kế cho ngư dân.
Minh Đăng

