Để thương hiệu nông sản Đắk Lắk phát triển bền vững

Cà phê, sầu riêng và tôm hùm là ba ngành hàng nổi bật về quy mô, giá trị và khả năng định vị thương hiệu cho nông sản Đắk Lắk. Tuy nhiên, lợi thế sản lượng chỉ thực sự trở thành sức mạnh kinh tế khi sản phẩm được chuẩn hóa, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc minh bạch và tổ chức theo chuỗi.

Gia tăng giá trị thương hiệu cà phê, sầu riêng

Từ tên một vùng nguyên liệu, Cà phê Buôn Ma Thuột đã trở thành chỉ dẫn địa lý được bảo hộ tại nhiều quốc gia, gắn với đất bazan, kinh nghiệm canh tác và văn hóa bản địa. Dư địa tăng giá trị hiện nằm chủ yếu ở các khâu sau thu hoạch: phân loại, rang xay, chế biến hòa tan, phát triển cà phê đặc sản, thiết kế bao bì và tổ chức phân phối. Vì vậy, bảo vệ danh tiếng phải đi cùng nâng cấp năng lực chế biến và kiểm soát chất lượng trong toàn chuỗi.

Quy định của thị trường châu Âu về sản phẩm không gây mất rừng thúc đẩy việc số hóa vùng trồng, đối chiếu bản đồ rừng và kết nối dữ liệu tới từng nông hộ. Đây là cơ sở chứng minh nguồn gốc và tiếp cận phân khúc giá trị cao.

Cà phê Đắk Lắk cần tăng cường chế biến sâu để nâng cao chất lượng, giá bán. Ảnh: CTV
Cà phê Đắk Lắk cần tăng cường chế biến sâu để nâng cao chất lượng, giá bán. Ảnh: CTV

Để bảo vệ thương hiệu cho loại nông sản này, tỉnh Đắk Lắk xác định vùng nguyên liệu phải đạt chuẩn; hợp tác xã (HTX) làm đầu mối cung cấp dịch vụ, kiểm soát chất lượng, thu gom; doanh nghiệp đặt hàng, chế biến và phân phối. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thiên Văn yêu cầu ngành chức năng tham mưu giải pháp chế biến sâu, phối hợp triển khai các khu, cụm công nghiệp để thu hút đầu tư chế biến nông, lâm, thủy sản. Với cà phê, trọng tâm là nâng năng lực rang xay, sản xuất hòa tan, phát triển cà phê đặc sản, kho bảo quản và sản phẩm tiện dụng.

Với sầu riêng Đắk Lắk, mã số vùng trồng là yếu tố then chốt để kiểm soát chất lượng, khẳng định giá trị thương hiệu. Mã số vùng trồng là cam kết về vật tư đầu vào, dư lượng hóa chất, nhật ký sản xuất, thu hoạch, đóng gói và truy xuất. Toàn tỉnh hiện có 280 mã số vùng trồng sầu riêng được phê duyệt, với khoảng 7.500 ha, cùng 42 cơ sở đóng gói đủ điều kiện xuất khẩu. Tỉnh đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp mới 165 mã số vùng trồng, tương ứng khoảng 4.915 ha, và 66 cơ sở đóng gói. Nếu được phê duyệt, diện tích có mã số mới đạt khoảng 41,7% tổng diện tích. Phần diện tích còn lại vẫn chịu sức ép đầu ra nếu tiến độ cấp mã không được đẩy nhanh.

Để chủ động cho niên vụ 2026, tỉnh yêu cầu rà soát từng mã số vùng trồng, xử lý tranh chấp, chồng lấn và khẩn trương hoàn thiện hồ sơ cấp mới. Cơ quan chuyên môn đồng thời đánh giá công suất, năng lực thu mua và chế biến của 109 cơ sở kinh doanh, sơ chế, bóc tách múi, cấp đông để xác định sức chứa của toàn chuỗi.

Sở Công Thương được giao đa dạng hóa tiêu thụ, kết hợp thị trường nội địa với xuất khẩu sầu riêng bóc múi, cấp đông sang Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan. Xúc tiến thương mại phải gắn với vùng trồng, cơ sở đóng gói đạt chuẩn và hợp đồng dài hạn. HTX hỗ trợ quản lý mã số; doanh nghiệp đầu tư kho lạnh, bao tiêu nguyên liệu; Nhà nước cung cấp thông tin, kiểm tra và xử lý gian lận.

Tổ chức lại vùng nuôi tôm hùm

Với hơn 189 km bờ biển, Đắk Lắk có dư địa phát triển kinh tế biển và nuôi trồng thủy sản. Nghề nuôi tôm hùm tại vùng biển phía Đông của tỉnh hình thành từ những năm 1990, tập trung ở vịnh Xuân Đài, đầm Cù Mông, vịnh Vũng Rô và một số khu vực ven bờ. Toàn tỉnh hiện có khoảng 153.000 lồng nuôi trên gần 2.000 ha mặt nước. Sản lượng năm 2025 đạt 2.520 tấn; 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.520 tấn, bằng 56,8% kế hoạch năm.

Ngư dân Đắk Lắk thu hoạch tôm hùm nuôi tại vịnh Xuân Đài. Ảnh: PV
Ngư dân Đắk Lắk thu hoạch tôm hùm nuôi tại vịnh Xuân Đài. Ảnh: PV

Tuy nhiên, hiện phương thức nuôi còn đơn giản; mật độ lồng dày, chất thải hữu cơ và thức ăn tươi làm suy giảm môi trường nước, phát sinh bệnh sữa, đỏ thân, đen mang. Tỷ lệ hao hụt, tôm chết mỗi vụ ước 30 - 35% tổng đàn. Nguồn giống, thị trường, giao hoặc cho thuê khu vực biển và cấp mã số cơ sở nuôi cũng cản trở truy xuất nguồn gốc, chứng nhận an toàn thực phẩm.

 

“Ngành nông nghiệp chuyển mạnh từ “quản lý sản lượng” sang “quản lý giá trị gia tăng”. Phải đánh giá rõ mức tăng đến từ mở rộng diện tích, năng suất hay khoa học - công nghệ; đồng thời theo dõi tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn xuất khẩu, tỷ lệ chế biến, đóng gói, năng lực kho lạnh, thị trường tiêu thụ và “giá trị thực sự được tạo ra, ở lại với người dân, doanh nghiệp và địa phương”.

Chủ tịch UBND tỉnh  Đỗ Hữu Huy

Theo Đề án tổng thể phát triển nuôi trồng thủy sản, đến năm 2030, vùng nuôi tôm hùm lồng, bè thương phẩm sẽ còn khoảng 1.000 ha với 48.000 lồng. Việc giảm từ 153.000 lồng hiện nay tác động trực tiếp đến sinh kế nên phải gắn với phương án chuyển đổi, hạ tầng vùng nuôi và liên kết tiêu thụ.

Ngành nông nghiệp định hướng sắp xếp hệ thống lồng bè tại các đầm, vịnh; mở rộng vùng nuôi ra biển mở, xa bờ; khuyến khích lồng vật liệu công nghệ cao HDPE và nghiên cứu nuôi tôm hùm trên bờ. Quan trắc môi trường, cảnh báo dịch bệnh, kiểm soát thức ăn cần được thực hiện thường xuyên. Các tổ hợp tác, HTX và mô hình đồng quản lý sẽ là đầu mối kết nối ngư dân với doanh nghiệp.

Tại hội nghị phát triển nuôi và tiêu thụ tôm hùm bền vững do Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp tổ chức, Cục trưởng Trần Đình Luân khẳng định tôm hùm là đối tượng nuôi chủ lực trong chiến lược nuôi biển quốc gia. Ngành tôm hùm hướng tới tăng trưởng giá trị sản xuất 8%/năm và đóng góp khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào năm 2030. Đắk Lắk cần chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo làm động lực.

Cục Thủy sản và Kiểm ngư khuyến nghị tỉnh thu hút doanh nghiệp đầu tư kho lạnh, chế biến sâu, logistics; phát triển tôm hùm cấp đông, sơ chế và sản phẩm giá trị gia tăng để giảm phụ thuộc thị trường tươi sống. Thương hiệu “Tôm hùm Đắk Lắk” phải được bảo đảm bằng vùng nuôi có mã số, con giống hợp pháp, quy trình an toàn và chỉ dẫn địa lý được quản lý nghiêm ngặt.

Thanh Xuân - Võ Phê



 

Ý kiến của bạn