Làm nông bằng tư duy quản trị

Từ mảnh vườn, cánh đồng đến thị trường, người nông dân hôm nay đang đảm nhận nhiều vai trò hơn trước. Không chỉ sản xuất, họ còn tính toán chi phí, tổ chức sản xuất, ứng dụng công nghệ, liên kết và tìm đầu ra cho sản phẩm. Những thay đổi ấy đang từng bước hình thành tư duy làm nông mới - tư duy quản trị, hướng đến nâng cao hiệu quả và giá trị nông sản.

Người “điều hành” trên đồng đất

Trước đây, gia đình ông Nguyễn An Sơn (xã Cư M’gar) trồng cà phê theo phương thức truyền thống, năng suất thấp, chi phí cao. Từ năm 2020, ông bắt đầu cải tạo 6,5 ha vườn tạp, chuyển sang trồng cà phê đa thân, thả ngọn, đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt Israel và áp dụng canh tác hữu cơ.

Không chỉ thay đổi kỹ thuật, ông Sơn còn tổ chức lại cách sản xuất. Nước tưới, dinh dưỡng, nhân công và chi phí được tính toán phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cây. “Làm nông bây giờ không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm. Mình phải tính toán từ đầu vụ, từ chi phí đầu tư, cách chăm sóc đến năng suất, chất lượng và đầu ra. Làm sao để cây khỏe, đất tốt mà chi phí được kiểm soát thì sản xuất mới có hiệu quả lâu dài”, ông Sơn chia sẻ.

Đại biểu tham quan, tìm hiểu hoạt động của Tổ hợp tác kinh doanh, phân phối sản phẩm OCOP và nông sản đặc trưng xã Ea Drăng.
Đại biểu tham quan, tìm hiểu hoạt động của Tổ hợp tác kinh doanh, phân phối sản phẩm OCOP và nông sản đặc trưng xã Ea Drăng.

Nhờ thay đổi phương thức canh tác, năng suất cà phê của gia đình ông đạt 5,5 tấn/ha, lợi nhuận trên 1 tỷ đồng/năm, tạo việc làm thường xuyên cho 15 lao động. Từ một người trực tiếp chăm sóc cây cà phê, ông Sơn từng bước trở thành người tổ chức, điều hành quá trình sản xuất. Mảnh vườn không chỉ là nơi tạo ra nông sản mà còn là tài sản được đầu tư, quản lý và khai thác theo hướng hiệu quả, bền vững.

Ở xã Ea Kly, ông Trần Văn Hảo lại chọn cách đưa tư duy sáng tạo vào sản xuất. Hơn 50 sáng chế về máy móc phục vụ nông nghiệp là kết quả của quá trình tìm tòi, cải tiến từ thực tế đồng ruộng. Trong đó có máy gieo hạt đa năng từng đạt giải Nhì tại Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk năm 2021.

Với ông Hảo, mỗi sáng chế đều bắt đầu từ nhu cầu thực tế. Máy móc phải giúp giảm công lao động, tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian sản xuất và nâng cao hiệu quả canh tác. Từ đó, ông nghiên cứu, thử nghiệm rồi tiếp tục điều chỉnh để sản phẩm phù hợp hơn với điều kiện sản xuất.

Cách làm ấy cũng cho thấy bước chuyển trong tư duy của nông dân: không chỉ trực tiếp sản xuất mà còn chủ động tìm giải pháp để tổ chức công việc hiệu quả hơn. Mô hình hiện đạt tổng thu nhập 3,1 tỷ đồng/năm sau khi trừ chi phí, tạo việc làm ổn định cho 10 lao động với mức lương từ 10 - 15 triệu đồng/người/tháng.

Từ những sáng chế phục vụ đồng ruộng, ông Hảo không chỉ nâng hiệu quả sản xuất của gia đình mà còn góp phần đưa cơ giới hóa đến gần hơn với nông dân, biến những kinh nghiệm từ thực tiễn thành các giải pháp có giá trị trong sản xuất.

Mở đường cho nông sản vươn xa

Quản trị sản xuất mới là một phần của hành trình làm nông. Khi nông nghiệp ngày càng gắn chặt với thị trường, việc tổ chức đầu ra, kết nối khách hàng và đưa sản phẩm đến đúng nơi tiêu thụ trở thành yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả sản xuất.

Từ thực tế đó, liên kết giữa nông dân, tổ chức hội, hợp tác xã và doanh nghiệp đang mở ra những hướng đi mới. Việc Hội Nông dân phường Tuy Hòa và Hội Nông dân xã Quảng Phú ký kết phối hợp hoạt động giai đoạn 2026 - 2030 là một ví dụ. Mỗi địa phương có những lợi thế riêng để bổ trợ cho nhau. Trong khi Tuy Hòa có thế mạnh về thương mại, dịch vụ và phát triển nông nghiệp đô thị thì Quảng Phú có tiềm năng về trồng trọt, chăn nuôi quy mô lớn và sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Thông qua các “Phiên chợ nông sản an toàn”, sản phẩm nông sản sạch, sản phẩm OCOP của Quảng Phú có thêm cơ hội tiếp cận người tiêu dùng tại Tuy Hòa.

Cùng với những cái “bắt tay” trực tiếp, chuyển đổi số đang tạo thêm những phương thức mới để đưa nông sản đến gần hơn với khách hàng. Tại xã Ea Drăng, Hội Nông dân phối hợp với các tổ chức đoàn thể tổ chức các chương trình livestream giới thiệu sản phẩm OCOP và nông sản đặc trưng của địa phương. Có thời điểm, kênh phát trực tiếp đạt hơn 23.000 lượt theo dõi.

Không chỉ quảng bá trên nền tảng số, Ea Drăng còn từng bước tổ chức lại hoạt động phân phối. Tháng 5 vừa qua, Hội Nông dân xã ra mắt Tổ hợp tác kinh doanh, phân phối sản phẩm OCOP và nông sản đặc trưng. Tổ hợp tác liên kết kinh doanh và phân phối 15 sản phẩm, gồm 10 sản phẩm đặc trưng của địa phương và 5 sản phẩm OCOP đạt hạng 3 sao.

Theo bà Vũ Thị Thúy Hòa, Chủ tịch Hội Nông dân xã Ea Drăng, các hoạt động quảng bá, kết nối tiêu thụ đang giúp sản phẩm OCOP và nông sản đặc trưng tiếp cận nhiều khách hàng hơn, đồng thời từng bước thay đổi tư duy sản xuất, kinh doanh của hội viên.

Từ những mô hình ở cơ sở, các cấp Hội Nông dân trong tỉnh tiếp tục hỗ trợ hội viên xây dựng thương hiệu, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm; hỗ trợ hơn 13.000 hội viên tiếp cận, tham gia các sàn thương mại điện tử và tập huấn kỹ năng bán hàng trực tuyến.

Ông Võ Văn Dũng, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân tỉnh cho biết, việc hỗ trợ nông dân ứng dụng công nghệ, kết nối thị trường và mở rộng các kênh tiêu thụ là yêu cầu cần thiết trong quá trình chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Người nông dân không chỉ cần làm ra sản phẩm chất lượng mà còn phải từng bước chủ động hơn trong xây dựng thương hiệu, tổ chức đầu ra và nâng cao giá trị nông sản.

Những cách làm ấy cho thấy quá trình chuyển đổi trong nông nghiệp không chỉ diễn ra trên đồng ruộng mà đã mở rộng đến khâu quảng bá, phân phối và xây dựng thương hiệu. Khi biết quản trị sản xuất, chủ động liên kết và tìm kiếm thị trường, nông dân không chỉ làm ra nông sản mà còn từng bước tạo thêm giá trị cho sản phẩm. Đó cũng là nền tảng để hình thành lớp nông dân chuyên nghiệp, thích ứng với nền nông nghiệp hiện đại và phát triển bền vững.

Khánh Như

 

Ý kiến của bạn