Số hóa di sản - mở lối cho giá trị trường tồn (kỳ 1)

Đắk Lắk sở hữu hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, kết tinh lịch sử, bản sắc và đời sống của cộng đồng các dân tộc qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc ứng dụng công nghệ để số hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản không chỉ góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống trước nguy cơ mai một, mà còn mở ra cơ hội đưa di sản đến gần hơn với cộng đồng, tạo nguồn lực mới cho phát triển văn hóa, giáo dục và du lịch bền vững.

Kỳ 1: “Đánh thức” di sản trong thời đại số

Giữa nhịp chuyển đổi số (CĐS) đang lan tỏa mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực đời sống, không gian văn hóa truyền thống dần bị thu hẹp, lớp nghệ nhân ngày một già đi… Trong bối cảnh đó, cuộc cách mạng chuyển đổi số (CĐS) trở thành “chìa khóa” đưa di sản bước ra khỏi không gian tĩnh, tiếp cận gần hơn với công chúng hiện đại.

Kho tàng di sản đồ sộ

Đắk Lắk là vùng đất hội tụ, giao thoa văn hóa của nhiều dân tộc như Ê Đê, Ba Na, M’nông, Tày, Nùng... Mỗi dân tộc mang bản sắc văn hóa riêng biệt và độc đáo, góp phần hình thành kho tàng di sản văn hóa phong phú, đa dạng cả về vật thể và phi vật thể. Đắk Lắk còn sở hữu hàng trăm di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ và danh lam thắng cảnh; nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc; cùng kho tàng sử thi, nghệ thuật trình diễn dân gian, nghề thủ công truyền thống… Đặc biệt, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam - hai di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được UNESCO ghi danh. Đây là nguồn tài nguyên văn hóa quý giá, phản ánh chiều sâu lịch sử, bản sắc của vùng đất và cộng đồng các dân tộc Đắk Lắk.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều loại hình di sản đang dần bị thu hẹp không gian tồn tại. Lớp nghệ nhân - những "báu vật sống" lưu giữ ký ức văn hóa của cộng đồng ngày một già đi, trong khi thế hệ trẻ ít có điều kiện tiếp cận, học hỏi và kế thừa. Sự đứt gãy trong quá trình trao truyền khiến nhiều lễ hội, nghi lễ truyền thống đứng trước nguy cơ bị giản lược, thậm chí mai một theo thời gian.

Cán bộ sở vhttdl nắm thông tin về nghi thức thực hiện các nghi lễ truyền thống từ các nghệ nhân, già làng ở thôn xí thoại để phục vụ công tác số hóa.
Cán bộ Sở VHTT&DL tỉnh nắm thông tin về nghi thức thực hiện các nghi lễ truyền thống từ các nghệ nhân, già làng ở thôn Xí Thoại, xã Xuân Lãnh để phục vụ công tác số hóa. Ảnh: T.Hương

Điển hình là đội ngũ thầy cúng của đồng bào Ê Đê - những người giữ vai trò trung tâm trong các nghi lễ tín ngưỡng dân gian, phần lớn đều đã lớn tuổi, trong khi lớp kế cận gần như vắng bóng. Ông Y Ret Alio, một thầy cúng ở xã Ea Nuôl, trăn trở: “Hiện nay không phải buôn làng nào cũng đều có người biết thực hiện nghi thức các lễ cúng. Người trẻ đi học, đi làm xa, ít ai còn muốn ngồi hàng tháng, hàng năm để học thuộc những lời khấn dài, khó nhớ, vì vậy nhiều cộng đồng đang trống lớp người kế cận để trao truyền. Thế hệ chúng tôi rất lo, nếu không còn ai nắm rõ nghi thức cũng lễ, lời khấn thì buôn làng sẽ mất đi phần hồn cốt”.

Mỗi bài cúng là một kho tư liệu sống chứa đựng ngôn ngữ cổ, quan niệm vũ trụ, luật tục và lịch sử cộng đồng. Tuy nhiên, cách lưu giữ chủ yếu truyền miệng, không có tài liệu ghi chép hệ thống nên đứng trước nguy cơ mai một khi người nắm giữ qua đời. 

Ông Y Ret Alio (xã Ea Nuôl) thực hiện nghi thức cúng cầu mưa
Ông Y Ret Alio (xã Ea Nuôl) thực hiện nghi thức cúng cầu mưa. Ảnh: T.Hồng

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải bảo tồn, làm “sống” di sản trong đời sống đương đại. Và CĐS chính là chìa khóa mở ra hướng đi mới cho công tác này.

Giữ hồn cũ bằng cách làm mới

Những năm gần đây, ngành Văn hóa tỉnh từng bước thực hiện số hóa di sản. Thông qua các nền tảng công nghệ, những câu chuyện lịch sử không còn nằm yên trong không gian tĩnh mà được tái hiện sinh động, trực quan hơn.

Theo Sở VHTT&DL, nhiều giải pháp đã và đang được triển khai như xây dựng cơ sở dữ liệu số về di tích; số hóa hồ sơ, hiện vật; ứng dụng mã QR để cung cấp thông tin cho du khách; quét 3D, dựng mô hình không gian di tích phục vụ tham quan trực tuyến… Công tác sưu tầm, ghi âm, ghi hình các sử thi, lễ hội truyền thống cũng được đẩy mạnh, góp phần lưu giữ nguyên vẹn những giá trị văn hóa phi vật thể quý hiếm. Nhiều nghệ nhân được mời tham gia trình diễn, truyền dạy, đồng thời kết hợp ghi chép và số hóa để tạo nguồn dữ liệu lâu dài.

“Trên địa bàn tỉnh hiện có 177 di tích được xếp hạng; trong đó, có 2 di sản được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, 5 di tích quốc gia đặc biệt, 39 di tích quốc gia và 133 di tích cấp tỉnh. Sở VHTT&DL cũng đang tiến hành kiểm kê lại gần 300 di tích đã được đưa vào Danh mục kiểm kê di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh theo tiêu chí của Luật Di sản văn hóa”, Phó Giám đốc Sở VHTT&DL Nguyễn Lê Vũ.

Hiện các lớp truyền dạy kỹ năng diễn tấu trống đôi, cồng ba, chiêng năm của dân tộc Ba Na đang được Sở VHTT&DL tổ chức tại xã Xuân Lãnh và xã Phú Mỡ. Điểm mới là các nghệ nhân cùng cơ quan chuyên môn xây dựng giáo án truyền dạy thống nhất. Toàn bộ giáo án sẽ được số hóa để lưu giữ lâu dài; quá trình thực hành cũng được ghi hình, xây dựng thành kho dữ liệu số. Đây không chỉ là tài liệu phục vụ các lớp học sau này mà còn góp phần lưu giữ nguyên vẹn kỹ thuật diễn tấu, phương pháp truyền dạy và tri thức dân gian của các nghệ nhân.

Già làng Sô Du Linh thôn Xí Thoại (xã Xuân Lãnh) chia sẻ: Quá trình truyền dạy được xây dựng giáo án, ghi hình và số hóa toàn bộ là việc rất ý nghĩa. Không chỉ giúp lưu giữ đầy đủ những bài bản, kỹ thuật diễn tấu của cha ông mà còn tạo điều kiện để các thế hệ sau có thể học tập, tiếp nối. Tôi tin rằng với cách làm này, tiếng cồng, tiếng chiêng sẽ còn vang mãi, bản sắc văn hóa của người Ba Na cũng sẽ được gìn giữ và lan tỏa lâu dài”.

Số hóa hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Đắk Lắk
Số hóa hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Đắk Lắk. Ảnh: Bảo tàng Đắk Lắk cung cấp

Tại Bảo tàng Đắk Lắk, công tác số hóa di sản đã được triển khai từ khá sớm. Hiện du khách tham quan không còn bị giới hạn trong không gian trưng bày truyền thống; thay vào đó, các giá trị lịch sử, văn hóa đang dần được hiển thị sinh động trên nền tảng số, mang đến những trải nghiệm mới mẻ. Các nền tảng như Facebook, Fanpage, Spotify hay website của bảo tàng cũng đang dần trở thành “cánh cửa số” đưa công chúng tiếp cận di sản một cách trực quan, sinh động hơn. Ngoài ra, Bảo tàng Đắk Lắk đã số hóa 3D được một số hiện vật tiêu biểu, thử nghiệm quét mã QR hiện vật để nghe thuyết minh tự động tại các không gian trưng bày và sẽ được triển khai chính thức trong thời gian sắp tới.

Điểm nhấn đáng chú ý là việc thử nghiệm ứng dụng công nghệ thực tế ảo tăng cường (AR). Những không gian nhà dài truyền thống không còn là hình ảnh xa xưa trong trí tưởng tượng, mà được tái hiện một cách sống động. Chỉ bằng một cú chạm, du khách có thể chứng kiến cảnh sinh hoạt cộng đồng, nghi lễ truyền thống, hay hòa mình vào âm thanh cồng chiêng, sử thi Đam San… tất cả hiện lên chân thực ngay trên màn hình thiết bị điện tử. Tuy thời gian thử nghiệm ngắn nhưng vẫn tạo cho du khách những trải nghiệm ấn tượng.

Di tích lịch sử - khảo cổ cấp quốc gia Thành An Thổ
Du khách tra cứu thông tin Di tích lịch sử - khảo cổ cấp quốc gia Thành An Thổ (xã Tuy An Bắc) bằng mã QR. Ảnh: T.Hương

“Hiện nay, hàng trăm hiện vật, tư liệu quý đã được “lưu giữ” trên không gian số, không chỉ để bảo tồn lâu dài mà còn mở rộng khả năng lan tỏa. Khi di sản số hóa, giá trị văn hóa không còn bó hẹp trong bốn bức tường bảo tàng hay nâng cao khả năng lưu trữ, bảo quản khoa học mà còn đưa giá trị văn hóa, lịch sử đến gần hơn với công chúng” Giám đốc Bảo tàng Đắk Lắk Võ Thị Phượng chia sẻ.

Bên cạnh đó, một số di tích như Di tích quốc gia đặc biệt Nhà đày Buôn Ma Thuột, Di tích lịch sử quốc gia Đình Lạc Giao (phường Buôn Ma Thuột) đã số hóa dữ liệu; nhiều di tích lịch sử khác ở các xã, phường khác cũng được gắn mã QR giúp người dân và du khách có thể tìm hiểu tường tận thông tin về di tích đó chỉ qua một cái chạm nhẹ.

Tuyết Hương - Thúy Hồng

Kỳ cuối: Để di sản “sống” cùng thời đại số

 

Ý kiến của bạn