Nghị định 110/2026/NĐ-CP: Nền móng pháp lý cho trách nhiệm bảo vệ môi trường

Từ ngày 25/5/2026, Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR) của Chính phủ chính thức có hiệu lực.

Theo Nghị định 110, doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu phải thực hiện tái chế sản phẩm, bao bì theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc khi đưa ra thị trường. Trường hợp ủy thác nhập khẩu, đơn vị chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tái chế. Điều này làm rõ trách nhiệm pháp lý, hạn chế tình trạng "tránh né" nghĩa vụ môi trường. Cùng với đó là cơ chế minh bạch hơn trong đóng góp tài chính, tái chế bắt buộc theo tỷ lệ và quy cách cụ thể, tạo nền tảng để chính sách EPR không chỉ dừng ở khẩu hiệu mà tiến gần hơn tới thực thi thực chất.

Có thể nói, đây là bước tiến cần thiết trong bối cảnh Việt Nam mỗi năm phát sinh hàng chục triệu tấn chất thải rắn sinh hoạt, trong khi phần lớn rác thải vẫn đang được chôn lấp, tỷ lệ tái chế còn thấp, phân loại tại nguồn còn hạn chế, chuỗi thu gom - tái chế chủ yếu dựa vào khu vực phi chính thức (ve chai, đồng nát, làng nghề).

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là việc đưa chính sách đi vào đời sống.

Người dân xã Ea Drăng tham gia phân loại rác thải tại nguồn. Ảnh: Thúy Hồng

Thực tế hiện nay cho thấy, thách thức lớn nhất không nằm ở việc thiếu quy định, mà ở “điểm nghẽn thực thi”. Đơn cử, theo quy định của Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 7/7/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, có hiệu lực từ ngày 25/8/2022 thì từ ngày 1/1/2025, cá nhân, hộ gia đình phải phân loại chất thải rắn sinh hoạt làm ba loại gồm tái chế, thực phẩm và khác và nếu không phân loại thì sẽ bị xử phạt từ 500.000 đến 1 triệu đồng. Với hành vi không phân loại và lưu giữ riêng chất thải rắn công nghiệp sau phân loại, tổ chức, cơ quan, cơ sở sản xuất sẽ bị phạt từ 20 - 30 triệu đồng. Nhưng trên thực tế, việc phân loại rác ở đa số các gia đình vẫn chưa được thực hiện và dường như cũng chưa thấy có trường hợp nào bị xử phạt; và hầu như các đơn vị thu gom rác vẫn gom các loại rác vào chung một nơi.

Một thực tế nữa là, doanh nghiệp có trách nhiệm tái chế nhưng mạng lưới thu hồi bao bì sau tiêu dùng còn manh mún. Nhiều địa phương thiếu hạ tầng trung chuyển, thiếu cơ sở tái chế đạt chuẩn, dẫn tới nguy cơ EPR trở thành nghĩa vụ tài chính đơn thuần thay vì tạo ra thay đổi hệ thống.

Để Nghị định 110 thực sự phát huy hiệu quả trên thực tế, thiết nghĩ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như: Phải quyết liệt thực hiện phân loại rác tại nguồn một cách đồng bộ. Không thể yêu cầu người dân thay đổi hành vi nếu hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý không thay đổi tương ứng. Cần chuẩn hóa màu sắc, ký hiệu thùng rác; áp dụng công nghệ truy xuất dòng rác để tránh tình trạng “phân loại hình thức”...

Cùng với đó, cần tích hợp khu vực phi chính thức vào chuỗi tái chế chính thức. Lực lượng thu mua phế liệu (ve chai, đồng nát) lâu nay đang góp phần đáng kể vào tái chế nhưng thiếu bảo hộ và kết nối. Nếu được tổ chức thành các hợp tác xã môi trường hoặc mạng lưới đối tác EPR, đây sẽ là nguồn lực xã hội hóa rất lớn, vừa tạo sinh kế, vừa nâng hiệu quả thu hồi.

Bên cạnh đó, cần xây dựng thị trường vật liệu tái chế đủ hấp dẫn. Tái chế chỉ bền vững khi sản phẩm tái chế có đầu ra. Nhà nước cần ưu đãi thuế, tín dụng xanh, chính sách mua sắm công ưu tiên vật liệu tái chế; đồng thời siết tiêu chuẩn với bao bì khó tái chế để buộc doanh nghiệp chuyển sang thiết kế sinh thái.

Đồng thời, cần có hệ thống giám sát EPR một cách công khai, minh bạch. Từ kê khai sản lượng, tỷ lệ tái chế đến dòng tiền đóng góp cần minh bạch, có kiểm toán độc lập. Khi xã hội, người tiêu dùng và báo chí có thể giám sát, EPR mới tránh được nguy cơ “nộp tiền để hoàn thành nghĩa vụ” mà thiếu chuyển biến thực tế.

Nghị định 110/2026/NĐ-CP đặt nền móng pháp lý cho trách nhiệm môi trường hiện đại. Nhưng để bước tiến ấy trở thành chuyển biến, rất cần một hệ sinh thái đồng bộ từ chính sách, địa phương,doanh nghiệp đến từng hộ dân.

 

Ý kiến của bạn