Chiều 4/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, tại Tổ thảo luận số 16 dưới sự điều hành của đồng chí Lương Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk, các đại biểu thảo luận về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Phiên thảo luận có sự tham dự của đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách Chiến lược Trung ương, cùng các ĐBQH thuộc 3 Đoàn: Đắk Lắk, Tuyên Quang, Cao Bằng.
![]() |
| Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 16. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp |
Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi): Lồng ghép hài hòa yếu tố văn hóa và di sản dưới nước
Góp ý về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), đại biểu Đỗ Chí Nghĩa, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) cho rằng đây tuy là dự luật mang tính chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật sâu nhưng có tác động trực tiếp đến thềm lục địa, đáy biển, tầng địa chất, sinh kế của ngư dân và đặc biệt là di sản văn hóa.
Đại biểu nhấn mạnh, cần quan tâm nhiều hơn đến góc độ bảo tồn di sản văn hóa bên cạnh các yếu tố kỹ thuật, bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và giữ gìn các giá trị truyền thống.
![]() |
| Đại biểu Đỗ Chí Nghĩa, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) phát biểu thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp |
Đi vào các điều khoản cụ thể, đại biểu Đỗ Chí Nghĩa đề nghị bổ sung quy định rõ ràng về vùng an toàn xung quanh công trình dầu khí trên đất liền tại Điều 8 nhằm tránh việc vận dụng tùy nghi làm ảnh hưởng đến sản xuất và không gian sống của người dân.
Tại Điều 10 về điều tra cơ bản, đại biểu kiến nghị bổ sung yêu cầu điều tra phải hài hòa với bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời mở rộng cơ chế phối hợp với ngành văn hóa khi phát hiện khu vực có tiềm năng di sản. Đặc biệt, đối với các dữ liệu quét đáy biển phân giải cao khi phát hiện tàu đắm hay cổ vật, đại biểu đề xuất cần có sự kết nối, chia sẻ dữ liệu với Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa.
Ngoài ra, việc đưa các mẫu vật, hiện vật cổ ra nước ngoài giám định tại Điều 12 cũng cần tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật về di sản văn hóa nhằm ngăn chặn nguy cơ chảy máu cổ vật.
Cơ chế đặc thù trong đổi mới sáng tạo: Tháo gỡ rào cản, bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm
Thảo luận về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo đại biểu Bế Trung Anh, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) việc Điều 6 bắt buộc hoạt động đổi mới sáng tạo phải "đã hoàn thành mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội" mới được loại trừ trách nhiệm là vô hình trung đi ngược lại bản chất thử nghiệm, bởi thử nghiệm luôn chấp nhận rủi ro có thể thành công hoặc thất bại. Quy định này sẽ khiến cán bộ e ngại, không dám mạnh dạn đổi mới.
![]() |
| Đại biểu Bế Trung Anh, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) đóng góp ý kiến tại phiên thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp |
Bên cạnh đó, đại biểu Bế Trung Anh cũng phân tích sự xung đột giữa Khoản 5 Điều 3 (không áp dụng Nghị quyết để xem xét lại bản án có hiệu lực) và Điều 10 (cho phép hoãn, miễn chấp hành hình phạt), từ đó đề nghị Ban soạn thảo lựa chọn phương án thống nhất để tránh chồng chéo. Đại biểu cho rằng việc chỉ tính toán các thiệt hại mang tính vật chất là chưa phù hợp trong kỷ nguyên số, khi mà vi phạm về dữ liệu cá nhân hay thuật toán có thể gây ra hậu quả phi vật chất rất lớn.
Phát biểu về góc độ kỹ thuật pháp lý, đại biểu Đỗ Khắc Hưởng, Phó Vụ trưởng Vụ Dân nguyện và Giám sát thuộc Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) nhất trí cao với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng, đặc biệt là Kết luận số 14-KL/TW về bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo và Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
![]() |
| Đại biểu Đỗ Khắc Hưởng, Phó Vụ trưởng Vụ Dân nguyện và Giám sát thuộc Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) phát biểu thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp |
Tuy nhiên, đi sâu vào Khoản 5 Điều 3 của dự thảo quy định về hiệu lực hồi tố, đại biểu cho rằng, giữa đoạn 1 (không áp dụng hiệu lực hồi tố đối với bản án, quyết định kỷ luật đã có hiệu lực) và đoạn 2 (cho phép xem xét áp dụng chính sách nếu đủ điều kiện cho người đã bị xử lý hình sự, kỷ luật) có sự mâu thuẫn trực tiếp, bởi theo khoa học pháp lý, khái niệm "đã bị xử lý hình sự, kỷ luật" bao hàm cả các trường hợp đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Bên cạnh đó, quy định hồi tố vô thời hạn trong dự thảo này khác biệt lớn với quy định hồi tố giới hạn (không quá 2 năm) tại Nghị quyết 29 vừa được Quốc hội thông qua.
Việc hồi tố không giới hạn thời gian có thể dẫn đến việc phải xem xét lại hàng loạt vụ việc phức tạp đã giải quyết trước đây mà chúng ta chưa lường hết được tác động. Ngoài ra, hiện nay cũng chưa có quy định rõ ràng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cũng như căn cứ tố tụng (như Giám đốc thẩm hay Tái thẩm) để xem xét lại các bản án đã có hiệu lực. Từ đó, đại biểu đề nghị cân nhắc kỹ quy định hồi tố, trường hợp cần thiết quy định thì phải chỉnh lý bảo đảm tính thống nhất, đánh giá tác động kỹ lưỡng và bổ sung đầy đủ hướng dẫn về thẩm quyền, thủ tục thực hiện.
![]() |
| Đại biểu Lê Đào An Xuân, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk đóng góp ý kiến thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp |
Cùng quan tâm đến tính thống nhất và khả thi của dự thảo Nghị quyết này, đại biểu Lê Đào An Xuân (Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) thấy Điều 1 quy định phạm vi điều chỉnh quá rộng nhưng lại thiếu giới hạn về thời gian và loại hình dự án, dễ dẫn đến lúng túng khi thực thi. Nếu mục tiêu của Nghị quyết là bảo vệ người dám nghĩ, dám làm trong giai đoạn mới thì thời hạn hiệu lực 3 năm tại Điều 12 là không đủ, bởi Nghị quyết 57 của Trung ương đặt ra nhiệm vụ cho cả giai đoạn 5 năm tới. Do đó, đại biểu đề nghị kéo dài thời gian thi hành Nghị quyết tối thiểu 5 năm để bảo đảm tính đồng bộ.
Đại biểu Lê Đào An Xuân cũng chỉ ra sự thiếu đồng nhất giữa Khoản 5 Điều 3 (không áp dụng hồi tố) với Điều 10 và Điều 11 (có nội dung hồi tố). Đại biểu phân tích quy trình từ Điều 5 đến Điều 9 liên quan đến xử lý hình sự (từ không truy cứu, tạm hoãn, miễn trách nhiệm đến không khởi tố). Nếu cơ quan chức năng phải chờ kết luận chính thức để xác định cán bộ "không tham nhũng" mới áp dụng biện pháp "không truy cứu" thì người vi phạm đã bước sâu vào quy trình tố tụng, làm mất đi ý nghĩa ưu tiên của quy định này.
Vì vậy, đại biểu đề xuất cần bổ sung nguyên tắc áp dụng ưu tiên theo hướng lựa chọn giải pháp nhẹ nhất ngay từ đầu. Bên cạnh đó, tại Khoản 2 Điều 6 về loại trừ trách nhiệm hình sự, đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ rõ ràng là "thuộc một trong các trường hợp sau đây" (thay vì quy định chung chung "thuộc các trường hợp sau đây") để tránh các hiểu lầm hoặc tranh cãi trong thực tiễn áp dụng.
![]() |
| Đại biểu Lương Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk phát biểu thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp |
Đồng quan điểm về những vướng mắc pháp lý, đồng chí Lương Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk nhấn mạnh rủi ro lớn đối với các cơ quan tố tụng khi áp dụng những tiêu chí mang tính định tính cao như "vì lợi ích chung", "mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội" hay "không tham nhũng". Đồng chí phân tích rằng nếu quy định không rõ ràng, lực lượng làm công tác tố tụng vì muốn bảo đảm an toàn sẽ chọn giải pháp không áp dụng Nghị quyết, và cuối cùng người chịu thiệt thòi nhất vẫn là những cán bộ dám nghĩ, dám làm.
![]() |
| Đại biểu Bùi Thanh Toàn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Đắk Lắk thảo luận tại phiên làm việc. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk cung cấp |
Đóng góp ý kiến về dự thảo Nghị quyết này, đại biểu Bùi Thanh Toàn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Đắk Lắk đồng tình cao với việc ban hành Nghị quyết nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 57 của Trung ương. Tuy nhiên, đại biểu kiến nghị Trung ương sớm mở rộng phạm vi chính sách đặc thù cho cả mảng "nghiên cứu và phát triển" thay vì chỉ dừng lại ở "ứng dụng", bởi đây mới là khâu phát sinh nhiều rủi ro, vướng mắc nhất trong quá trình làm chủ các công nghệ chiến lược “Made in Viet Nam”. Đại biểu cũng đề xuất nên tách riêng một chương quy định cụ thể về xử lý kỷ luật để bảo đảm tính cân đối với mảng xử lý vi phạm pháp luật.
Đảm bảo quy trình, kinh phí và nhân sự thực thi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Đóng góp ý kiến đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, các đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk đã tập trung tháo gỡ nhiều vướng mắc phát sinh từ thực tiễn.
Liên quan đến nguyên tắc áp dụng luật tại Điều 4, đại biểu Đỗ Khắc Hưởng bày tỏ nhất trí cao với sự cần thiết ban hành luật sửa đổi nhằm đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và cải cách thủ tục hành chính. Phân tích 2 phương án trình trong hồ sơ, đại biểu Đỗ Khắc Hưởng thẳng thắn chỉ ra bất cập của quy định hiện hành (chỉ cho phép quy định trách nhiệm bồi thường nhà nước duy nhất trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước).
![]() |
| Các ĐBQH tỉnh Đắk Lắk tham dự phiên làm việc. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp |
Đại biểu nhấn mạnh, thực tiễn từ năm 2017 đến nay cho thấy quy định này gây ra nhiều khó khăn, buộc chúng ta phải đặt ra các ngoại lệ trong một số luật chuyên ngành như Luật Tố cáo hay Luật Quản lý thuế do phát sinh nhu cầu thực tế. Do đó, đại biểu thống nhất chọn Phương án 1, cho phép quy định trách nhiệm bồi thường nhà nước cả trong các luật chuyên ngành khác để bảo đảm tính linh hoạt và phù hợp với thực tiễn.
Đồng quan điểm về việc hoàn thiện các quy định công vụ, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk tập trung phân tích các nhóm vấn đề vướng mắc lớn phát sinh từ thực tiễn thi hành công vụ. Đồng ý với việc bổ sung căn cứ tạm đình chỉ giải quyết bồi thường khi chờ kết quả vụ án liên quan tại Khoản 22 Điều 1, đại biểu chỉ ra dự thảo vẫn thiếu quy trình, thời hạn giải quyết cụ thể cũng như hướng xử lý khi hết thời hạn tạm đình chỉ mà vụ việc liên quan vẫn chưa có kết quả.
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh phát biểu thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp |
Về vấn đề tài chính, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt đề nghị cần có cơ chế chi trả linh hoạt khi người yêu cầu bồi thường chủ động tự thỏa thuận đi giám định thiệt hại nhằm rút ngắn thời gian xử lý. Đồng thời, đại biểu nhấn mạnh vướng mắc lớn nhất hiện nay là kinh phí bồi thường thực tế ở nhiều vụ việc lớn gấp nhiều lần nguồn dự toán hằng năm của cơ quan nhà nước. Nếu luật chỉ quy định chung chung sử dụng kinh phí được giao mà không có cơ chế cấp bổ sung linh hoạt thì quy định sẽ mang tính hình thức, rất khó triển khai trong thực tế.
Đối với việc thụ lý và phân công người giải quyết bồi thường tại Điều 43, đại biểu đề xuất quy định rõ ràng hơn theo hướng thành lập Tổ giải quyết bồi thường đối với các vụ việc lớn, phức tạp, thay vì chỉ cử một cá nhân đảm nhận toàn bộ quy trình nhằm bảo đảm tính khách quan và trí tuệ tập thể…
Lan Anh









