Vẹn nguyên ký ức hào hùng

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ mùa Xuân đại thắng năm 1975, nhưng đối với những người lính từng đi qua “tuyến lửa”, ký ức về ngày tháng hào hùng ấy vẫn vẹn nguyên...

Kiên cường dưới mưa đạn…

Năm 1965, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, chàng thanh niên Phạm Chí Sâm (quê Quảng Bình) xung phong lên đường nhập ngũ khi chưa tròn 18 tuổi. Sau nhiều năm rèn luyện, chiến đấu, tháng 5/1974 ông được biên chế vào bộ phận tiền trạm địa bàn Đắk Lắk, chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Ông Sâm nhớ lại: “Trong trận chiến giải phóng Buôn Ma Thuột, đối với tôi, cuộc chiến ác liệt nhất là trận đánh tại sân bay Hòa Bình. Địch huy động Trung đoàn 53 với hệ thống lô cốt, hầm ngầm kiên cố hòng tử thủ chờ viện binh. Suốt 7 ngày đêm, chúng tôi kiên cường đấu tranh dưới làn mưa đạn để hoàn toàn làm chủ mục tiêu”.

Ông Phạm Chí Sâm kể về những trận đánh lịch sử năm xưa.

Sau chiến thắng Tây Nguyên, ông Phạm Chí Sâm (khi đó là Thiếu úy, trợ lý trinh sát Lữ đoàn Pháo phòng không 234, Quân đoàn 3) cùng đơn vị hành quân thần tốc tiến về Sài Gòn. Nhiệm vụ của đơn vị là đảm bảo an toàn cho các sư đoàn bộ binh, tăng thiết giáp trước sự đánh phá của không quân Việt Nam Cộng hòa; tham gia chiến đấu, bảo vệ các mục tiêu quan trọng và các trận địa pháo binh, xe tăng trong quá trình tiếp cận Sài Gòn; tăng cường hỏa lực pháo cao xạ, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng hợp thành khác đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu ngụy.

Sáng 30/4/1975, dưới sự dẫn đường của nữ biệt động Nguyễn Thị Trung Kiên (tên thật là Cao Thị Nhíp), cánh quân hướng Tây Bắc tiến thẳng vào nội đô. Ông Sâm nhớ lại khoảnh khắc đối mặt với tử thần ngay cửa ngõ Sài Gòn: “Khi đội hình xe tăng T-54 và thiết giáp K-63 của ta tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất, địch bắn trả điên cuồng từ các nhà tầng. Lúc ấy chúng đánh trực diện ngay giữa đường phố, giành nhau từng lô cốt một”.

Đúng 11 giờ 30 phút, khi đài phát thanh vang lên lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh, cảm xúc vui mừng xen lẫn nghẹn ngào bao trùm. Hình ảnh những đồng đội đã ngã xuống ngay trước giờ chiến thắng có lẽ không bao giờ phai mờ trong tâm trí ông Sâm.

Giá trị của hòa bình

Đối với cựu chiến binh Nguyễn Quang Thanh (phường Ea Kao), những trận đánh khốc liệt tại Buôn Ma Thuột, đèo Phượng Hoàng hay phút giây chứng kiến cờ giải phóng tung bay tại sân bay Tân Sơn Nhất cách đây hơn 50 năm vẫn vẹn nguyên.

Trong vai trò cơ công, sửa chữa máy thông tin thuộc Ban Tham mưu Trung đoàn 66, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3, ông Thanh thường xuyên được bám sát chỉ huy tiểu đoàn để đảm bảo thông tin liên lạc luôn thông suốt.

Ông Nguyễn Quang Thanh nhớ lại kỷ niệm về những ngày tháng hào hùng.

Trong dòng ký ức của ông Thanh, trận chiến tại đèo Phượng Hoàng vào cuối tháng 3/1975 là một khúc ca đầy bi tráng. “Tại đây, đơn vị chúng tôi đã đụng độ dữ dội với Lữ dù 3 của địch. 21 chiến sĩ của ta đã hy sinh cùng lúc trong một hố pháo do trúng đạn pháo của địch. Thi thể anh em không còn nguyên vẹn, chúng tôi phải đau đớn chia ra để an táng. Đó là những người đồng đội vừa mới cùng nhau chia củ sắn, bát cơm trước đó vài giờ…”, ông Thanh nghẹn ngào kể lại.

Khó khăn không chỉ đến từ bom đạn mà còn từ sự khắc nghiệt của chiến trường. Do tuyến tiếp tế bị cắt đứt, ông và đồng đội phải nhịn đói suốt 4 ngày đêm trong trận đánh đèo Phượng Hoàng. Họ phải hái cây rừng để ăn qua bữa, dành dụm từng hạt gạo cuối cùng.

Sáng 30/4/1975, khi tiến vào tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, những người lính dày dạn trận mạc, vốn đã quen với cái chết cận kề, giờ phút ấy lại nhảy xuống xe, ôm lấy nhau mà khóc nức nở như những đứa trẻ. Ông Thanh tâm sự: “Lúc đó mừng lắm, khóc vì biết mình đã thực sự sống rồi. Sống để được về gặp lại bố mẹ, gặp lại người thân, trở về quê hương sau bao nhiêu năm chinh chiến. Với người lính chúng tôi, không có hạnh phúc nào lớn hơn là thấy đất nước lặng tiếng súng, thấy sự sống được hồi sinh trên từng mảnh đất mình đi qua…”.

Sau ngày đại thắng, cả ông Sâm và ông Thanh đều gắn bó với mảnh đất Đắk Lắk, nơi họ từng tham gia giải phóng, để tiếp tục công cuộc xây dựng quê hương mới. Ông Sâm công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, còn ông Thanh về ngành Bưu điện tỉnh Đắk Lắk. Hiện nay, dù mái đầu đã bạc, họ vẫn luôn trăn trở, bận rộn với vai trò trong Ban liên lạc Cựu chiến binh Sư đoàn 10 để kết nối đồng đội và gìn giữ ngọn lửa truyền thống.

Lan Anh

Ý kiến của bạn