“Tiếng Việt, văn Việt, người Việt” (Nxb Văn hóa dân tộc) là một tập tạp văn bàn về “tiếng Việt”, “văn Việt”, “người Việt và văn hóa Việt” của GS. Cao Xuân Hạo, được những đồng nghiệp và học trò cũ của ông chọn lọc từ những bài viết của giáo sư được đăng rải rác trên báo chí trong các năm 1982 - 2001.
Cuốn sách gồm 38 bài viết, được cấu trúc thành 3 phần, đúng như tựa chính: Phần I: Tiếng Việt; phần II: Văn Việt; phần III: Người Việt và văn hóa Việt.Trong đó, “nhà Việt ngữ học lão thành” có không ít ý kiến “mới mẻ”, “lạ tai”, đi ngược lại với những ý kiến của số đông về cách dạy - học - viết - hiểu tiếng Việt nhưng rất đáng suy ngẫm, khiến không ít độc giả “giật mình” nhìn lại cách sử dụng tiếng Việt của mình.
![]() |
Có thể thấy, trở đi trở lại trong các phần của cuốn sách luôn là nỗi trăn trở về việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt của một vị giáo sư rất yêu “thứ tiếng trong sáng, chính xác, tinh tế, đẹp đẽ, hoàn toàn xứng đáng được dân ta quý trọng và nâng niu”. GS. Cao Xuân Hạo phản ánh một thực tế: “Vào đại học, nhiều sinh viên chưa biết viết một bức thư cho đúng ngữ pháp và chính tả” (Mạnh hơn bão táp). Và theo Cao Xuân Hạo, nguyên nhân của tình trạng ấy là bởi thái độ “dĩ Âu vi trung” trong nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt, tức là ứng dụng ngữ học châu Âu vào tiếng Việt trong khi chúng là hai loại hình ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau: các ngôn ngữ châu Âu là ngôn ngữ biến hình, còn tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập. Ông cho rằng sách giáo khoa tiếng Việt “chỉ miêu tả và phân tích những kiểu câu nào hoàn toàn giống câu tiếng Pháp, tức khoảng không đến 30% trong các kiểu câu thông dụng trong tiếng Việt mà đồng bào ta vẫn nói hằng ngày, trong khi hơn 70% kiểu câu còn lại, đều hết sức thông dụng trong tiếng nói hằng ngày, trong văn xuôi và văn vần hiện đại cũng như trong thơ ca cổ điển và trong ca dao tục ngữ, thì học sinh chưa từng được học cách phân tích…” (Linh hồn tiếng Việt).
Với một tình yêu tiếng Việt vô cùng, GS. Cao Xuân Hạo không đồng tình với ý kiến của nhiều người rằng việc "sao phỏng" ngữ pháp châu Âu là: “một sự chuyển biến đáng mừng, vì có thế ta mới thực sự “hội nhập” với thế giới hiện đại được”. Cho rằng “… chính tính đa dạng của ngôn ngữ, cũng như của các lĩnh vực khác trong nền văn hóa dân tộc, làm cho sự hội nhập có thể được thực hiện mà không dẫn tới sự đơn điệu tẻ nhạt”, ông đồng thời cũng nhấn mạnh: “Không! Linh hồn của tiếng Việt không hề mất. Cái ý vị vô song của ca dao tục ngữ, của những câu Kiều, những câu ngâm của người chinh phụ vẫn còn sống mãnh liệt trong tiếng nói hằng ngày của dân ta, trong thơ của Nguyễn Bính, Tố Hữu hay Chế Lan Viên, và vẫn làm cho những nam thanh nữ tú mặc quần jeans hay váy đầm thời nay rung động trong từng đường gân thớ thịt của mình” (Linh hồn tiếng Việt).
GS. Cao Xuân Hạo gợi ý những “những tri thức và kỹ năng về tiếng Việt cần được dạy và học ở nhà trường phổ thông”, với mục tiêu “làm sao cho học sinh nói đúng, viết đúng và hiểu đúng những câu thông dụng của văn nói và văn viết tiếng Việt”. Muốn thế, cần phải “chọn lọc kỹ càng những quy tắc cần biết và phân bố các quy tắc ấy cho từng lớp, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức hợp”.
Bên cạnh những trăn trở về nghiên cứu, dạy và học tiếng Việt, cuốn sách còn giới thiệu nhiều bài viết của GS. Cao Xuân Hạo về những cách dùng từ của tiếng Việt, trong đó có nhiều quan điểm hết sức thú vị. Chẳng hạn, ông cho rằng “trong tiếng Việt, các từ Hán - Việt làm thành một lớp riêng, có những đặc trưng ngữ pháp và tu từ riêng”, và vì vậy “việc bài trừ các từ ngữ Hán - Việt và tìm cách thay thế nó bằng những từ ngữ “thuần Việt”” chưa hẳn đã là biện pháp “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Trái lại, việc đó có thể “làm cho tiếng Việt nghèo đi, và thay những cách nói đúng đắn và thích hợp với tình huống, với ngôn cảnh hay văn cảnh bằng những cách nói ngô ngọng, lạc lõng, thậm chí vô lễ và man rợ. Nếu gọi con gái bạn mình bằng quý nữ chẳng hạn là lố lăng, thì gọi một người đàn bà bằng đồng chí gái hay y tá gái cũng lố lăng không kém. Thủ tướng gái không bằng nữ thủ tướng. Nhưng đầy tớ gái lại hơn nữ đầy tớ. Ngài tổng thống và vợ không bằng ngài tổng thống và phu nhân, nhưng thằng út nhà tôi và phu nhân lại không bằng thằng út nhà tôi và vợ nó. Nói chung những sự kết hợp không tương thích đều cho những kết quả xấu". (Hán Việt và Thuần Việt).
|
GS. Cao Xuân Hạo (1930 - 2007) từng là giảng viên tại Đại học Tổng hợp Hà Nội. Là nhà ngôn ngữ học, dịch giả và thành viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ông được Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng Giải thưởng về dịch thuật năm 1985. |
Hay, mấy ai đã biết "sự phân biệt tinh tế nhưng rất quan trọng" trong cách dùng các từ "dù (cho dù; dù cho; dẫu; dẫu cho; ví dầu)" với "mặc dầu" và "tuy". Hóa ra, "tuy" và "mặc dầu" dùng để nói về một sự thể có thật (hiện thực), làm thành một trở ngại có thể ngăn cản một sự thể khác nhưng không ngăn cản được"; còn ""dù" dùng để nói về những sự thể không có thật hay chưa có thật mà chỉ giả định" (Khi biên tập viên là một người thầy). Đọc đến đây, dám chắc ai cũng sẽ "ồ" lên ngạc nhiên, và còn ngạc nhiên hơn nữa khi biết rằng trong văn học cổ điển và văn học dân gian, văn học hiện đại trước năm 1950 không hề có trường hợp nào vi phạm sự phân biệt này.
Trong cuốn sách, còn có nhiều lý giải về ý nghĩa và những cách dùng của các cấu trúc, các từ vựng thông dụng trong tiếng Việt không khỏi khiến người đọc “giật mình” về cách mình vẫn sử dụng lâu nay, như: “Về cách viết và cách đọc tên riêng tiếng nước ngoài trên văn bản tiếng Việt”; “Về lịch sử của khái niệm “chủ ngữ””; ““Đi bao giờ” và “bao giờ đi””; “Về một cách dịch không đúng”; ““Anh trai”, “chị gái” có phải là trùng ngữ không?”; ““Tìm” và “Kiếm””; ““Ổng”, “Ảnh”, Bển””; "Vân vân (v.v...) và chấm lửng (...)"; ““Trăm năm trong cõi người ta” nghĩa là gì?”; "Khi biên tập viên là một người thầy"…
Đọc cuốn sách, độc giả, nhất là những người hằng ngày làm việc với ngôn ngữ, chắc hẳn sẽ có ít nhiều suy tư hoặc tự vấn về cách hiểu, cách sử dụng tiếng Việt lâu nay. Thiết nghĩ, sự suy tư, trăn trở này vô cùng cần thiết để mỗi người thận trọng hơn, tìm hiểu kỹ càng hơn khi nói hay viết tiếng Việt; và đó cũng chính là cách tôn trọng, giữ gìn, phát huy nét đẹp của tiếng Việt và văn hóa Việt.
Hồng Hà

