Điểm lại trong số những người theo đuổi sự nghiệp văn chương đã thành danh ở nước ta trong thế kỷ 20, chỉ có 65 tác giả tuổi Ngọ.
Tuổi Bính Ngọ (1906) có 10 tác giả, trong đó có một nhà thơ ở tận Hà Tiên (Kiên Giang), vùng đất cực Tây Nam của Tổ quốc là Đông Hồ (1906 - 1969), người đứng làm gạch nối giữa tư duy thơ cũ và mới, tác giả của hàng chục tập thơ và các tập ký sự, khảo cứu văn học sử. Hai kịch tác gia hàng đầu của đất Nam Bộ sinh ra ở Mỹ Tho là Năm Châu (1906 - 1978) và Trần Hữu Trang (1906 - 1966), cả hai đều là bậc thầy của nghệ thuật cải lương, đều được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Ngoài ra còn có những cây bút văn xuôi nổi danh như: Hoàng Đạo (1906 - 1948), Lan Khai (1906 - 1945), Lê Văn Trương (1906 - 1964), Trọng Lang (1906 - 1986), Nam Đình (1906 - 1978)…
Tuổi Đinh Ngọ (1918) cũng có 10 tác giả, trong đó có hai kịch tác gia hiện đại là Bửu Tiến (1918 - 1992) với hơn 100 vở kịch nói và Lộng Chương (1918 - 2003), nhà viết kịch trưởng thành trong cách mạng và đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000. Hai nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học là Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Lê Trí Viễn (1918 - 2012) và nhà văn hóa học Hữu Ngọc. Nhà thơ “chân quê” nổi tiếng Nguyễn Bính và nhà chính trị, nhà thơ trưởng thành trong cách mạng Vĩnh Mai cũng tuổi Đinh Ngọ...
Tuổi Canh Ngọ (1930) có đến 19 tác giả, là thế hệ các cây bút trưởng thành trong cách mạng, có nhiều đóng góp cho nền văn học xuyên suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong đó có một kịch tác gia là Nghệ sĩ Nhân dân Tào Mạt (1930 - 1993); nhà lý luận phê bình văn học uyên bác là Hoàng Ngọc Hiến (1930 - 2010) và một dịch giả tài danh, nhà ngôn ngữ học, Giáo sư Cao Xuân Hạo. Sáu nhà thơ, mỗi người một giọng điệu khác nhau, đã thổi hồn mình ngân vang suốt một thời kháng chiến như Hải Bằng; Thanh Hải; Hoàng Minh Châu; Lê Giang; Lưu Trùng Dương; Văn Thảo Nguyên. Tuổi này, những người viết văn xuôi đông hơn, có đến 10 tác giả đã góp phần khắc họa chân dung người lính như Phan Tứ, Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Dậu, Hồ Phương, Lê Bầu, Thanh Giang, Vũ Thị Thường, Xuân Thiều, trong đó có những tác giả đã cắm những cột mốc quan trọng trong dòng chảy văn học đương đại, góp phần vào công cuộc đổi mới tư duy trong sáng tạo văn học như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu.
![]() |
| "Song mã tương phùng" kéo cỗ xe hạnh phúc mùa xuân 2026 tại Công viên đường hoa Tuy Hòa. Ảnh: T.Quới |
Nhà văn quân đội Nguyễn Khải có đến 25 tập sách, vừa tiểu thuyết, truyện ngắn, lại vừa có cả kịch, bút ký, tiểu luận văn chương, nhưng thành công nhất có lẽ là ở tiểu thuyết và truyện ngắn. Những tập truyện ngắn tiêu biểu cho tư tưởng và kết cấu luận đề của Nguyễn Khải như Mùa lạc (1960), Hãy đi xa hơn nữa (1963), Đường trong mây (1970), Một người Hà Nội (1989), Một thời gió bụi (1993), Ông đại tá và vị sư già (1993), còn đọng lại lâu bền trong tâm tưởng người đọc. Những tiểu thuyết thể hiện phong cách triết luận đầy chất trí tuệ và xung đột một cách gay gắt của Nguyễn Khải như Xung đột (1951), Chiến sĩ (1973), Cha và con, và... (1979), Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985, tái bản 1986) sẽ còn được thế hệ sau nhắc đến. Nguyễn Minh Châu cũng là một nhà văn quân đội. Hầu hết tác phẩm của ông đều viết về người lính, viết về đời sống và chiến tranh dưới cái nhìn của một người lính. Và, ông đã trở thành người viết hay nhất về chân dung người lính, thông qua hàng loạt các tiểu thuyết đồ sộ như Cửa sông (1966), Dấu chân người lính (1972), Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những người đi từ trong rừng ra (1982), Mảnh đất tình yêu (1987)...
Tuổi Nhâm Ngọ (1942) là thế hệ tác giả chống Mỹ, đông đảo hơn và chủ yếu là những người sáng tác. Tám tác giả văn xuôi là Nguyễn Thị Ngọc Tú, Bão Vũ, Đoàn Minh Tuấn, Nhật Tuấn, Hoàng Bình Trọng, Trần Quốc Tiến, Võ Khắc Nghiêm, trong đó người để lại dấu ấn quan trọng cho tiến trình hiện đại hóa văn xuôi là Lê Lựu, với các tiểu thuyết được coi là sự hoài thai và đồng hành cùng thời kỳ đổi mới như Thời xa vắng (1986), Đại tá không biết đùa (1989), Chuyện làng cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1995)... Tuổi này, người làm thơ đông hơn viết văn, có đến mười một thi nhân, mỗi người mỗi vẻ, mỗi giọng điệu, cùng hợp âm góp phần tạo thành dàn đồng ca của thơ ca thời chống Mỹ: Yên Đức, Chử Văn Long, Đông Trình, Hoàng Cát, Nguyễn Đình Ảnh, Phạm Trọng Thanh, Trần Nhương, Văn Đắc, Võ Thanh An, trong đó có hai tác giả tuy sáng tác không nhiều, nhưng đã tạo được vị trí trường tồn trong tâm tưởng nhiều thế hệ người đọc, là Hữu Thỉnh và Xuân Quỳnh.
![]() |
| Linh vật ngựa "Xích mã thăng long" xuân Bính Ngọ 2026, ở phường Tuy Hoa (Đông Đắl Lắk). Ảnh: T.Quới |
Đặc biệt, nhà thơ Xuân Quỳnh dường như sinh ra là để làm thơ ca ngợi tình yêu nồng nàn, thiết tha, cháy bỏng, để “được sống thêm một cuộc đời khác nữa” như chị đã từng tự bạch, để chị có thể tạo ra một thứ tình yêu bất tử, thông ra lời tự hát của một trái tim dịu dàng nhưng bỏng rát những khát khao. Cuộc đời tuy ngắn ngủi, nhưng chị đã kịp để lại những tác phẩm làm thức tỉnh tình yêu đôi lứa trong từng hoàn cảnh của đời sống như Hoa dọc chiến hào (in chung, 1971), Gió Lào, cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1977), Sân ga chiều em đi (1984), Tự hát (1984), Hoa cỏ may (1989), trong đó có những bài thơ hay như vẻ đẹp của những tấm gương trong suốt về tình yêu như Tự hát, Thuyền và biển, Sân ga chiều em đi... Vì thế, chị đã hai lần được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (1983, 1990).
Tuổi Giáp Ngọ (1954) chỉ có ba cây bút văn xuôi là Phùng Thiên Tân, Trần Văn Thước và cây bút nữ tiêu biểu cho văn xuôi hiện đại xứ Huế Trần Thùy Mai.
Tuổi Bính Ngọ (1966) chỉ có một cây bút văn xuôi nhưng lại là cây bút nữ “đứng” ở thời kỳ có sự chuyển mình trong tiến trình đổi mới là Nguyễn Thị Thu Huệ. Thế hệ sau, những người tuổi Ngọ theo đuổi nghiệp văn chương còn thưa vắng hơn. Đó là tuổi Đinh Ngọ (1978) có các nhà thơ Hoàng Thanh Hương (Gia Lai, dân tộc Mường), Bùi Thị Ngân (Hòa Bình), Nguyễn Văn Tuấn (Cần Thơ), Lưu Ly và cây bút văn xuôi Trang Thùy (Huế); tuổi Canh Ngọ (1990) có Y Việt Sa (dân tộc Ba Na, làm thơ, sống ở Hà Nội), Trần Dũng Nhân (Trà Vinh, viết văn xuôi), Hải Hạc Phan (Huế, làm thơ và viết văn xuôi)...
Phạm Phú Phong


