Tỏ tình quanh đây
Trên miền cao Tây Nguyên, có một nơi câu chuyện tình yêu được vun trồng thật xúc động, đó là xã Ia Piơr (huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai) – nơi sinh sống của 11 dân tộc anh em như: J’rai, Bahnar, Mường, Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ, Mông, Hoa và Kinh. Sự đồng cam cộng khổ của các dân tộc anh em nơi đây đã nảy nở những cuộc tình phá tan rào cản về phong tục tập quán cổ hủ xưa.
Người dân nơi đây thường nhắc đến tên một địa danh là Dốc Tình. Ngày trước chưa có cầu treo bắc qua suối Lốp, đến mùa nước lên thì người dân không thể nào qua suối được mà phải đợi khi nào nước rút mới đi qua. Có người chờ thì có hàng quán. Nhiều đôi trai gái gặp nhau trong quán hàng lúc đợi con nước xuống đã nảy sinh tình cảm. Nơi đây trở thành điểm hẹn tình yêu nên cái tên Dốc Tình xuất hiện.
Những mối tình vượt rào cản ngôn ngữ, phong tục cũng xuất hiện. Như ở làng Plei Me, một cô gái J’rai không đi “bắt chồng” như phong tục cũ mà chấp nhận về nhà chồng làm dâu theo tục lệ dân tộc Mường. Rồi một chiếc cầu treo được xây dựng kết nối hai bờ suối Lốp. Chẳng phải ngẫu nhiên, người dân xã Ia Piơr đặt tên chiếc cầu treo này với tên gọi rất thi vị là cầu Tình…
*
Không chỉ có những phiên chợ tình trên miền núi cao; ở đồng bằng, người xưa nói:“Trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”, cho nên mới có chuyện... tỏ tình ở chợ.
“Ngoài hai mươi tuổi, yêu mười bảy; tim tím ban chiều, tim tím mai; tim tím hoa rừng, tim tím núi; đời răng nhiều tím quá anh ơi!”. Ấy là lúc cô gái Huế bắt đầu yêu rồi đó. Và đến cái tuổi ấy, cô cũng vài lần được mẹ dắt theo vào chợ học hỏi kinh nghiệm để mà sau này đi làm dâu không sợ người cười. Đi chợ thì học được nhiều thứ lắm, từ cái chuyện “cá mè đè cá chép”, “gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua, gà trắng chân chì, mua chi giống ấy”...; cho đến chuyện “Mua thịt thì chọn miếng mông, lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi”. Các mẹ dạy con gái thế thôi, chứ bao nhiêu năm rồi các mẹ quá biết chợ là nơi thỏa mãn cái dạ dày của chồng nên đi chợ là phải nghĩ đến chồng thích ăn gì: “Con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi, con chó khóc đứng, khóc ngồi, ấy ai đi chợ mua tôi đồng riềng...”.
Song chợ không phải chỉ có các bà các cô đi chợ mà còn là thế giới của người bán. “Thương trường” thuở xưa là chốn “mom sông”, là chợ làng. Người đàn bà tiểu thương Việt Nam sống một phần kha khá cuộc đời mình ngoài chợ mới đảm bảo được cuộc sống cho cả gia đình. Đàn bà ở chợ “lắm mồm chị hàng cá, lắm lá chị hàng nem”, “hàng thịt nguýt hàng cá, hàng cá đá hàng tôm”... Coi vậy mà tình yêu của các chị cũng rất thâm trầm, mãnh liệt, cũng “chợ chiều có kẻ thất tình, tựa mai mai gãy, tựa đình đình xiêu” chứ chẳng chơi.
Hãy nghe các chị tự “tiếp thị” mình: “Chợ chùa một tháng sáu phiên, mời anh đi chợ thăm miền quê ta. Xanh mắt là chị hàng na, mặn mà hàng chuối, ngọt hoa hàng đường; thơm ngát là chị hàng hương, tanh tao hàng cá, phô trương hàng vàng...”. Có bao nhiêu người con gái ở chợ, có bấy nhiêu tâm tình. Các chị cũng là con gái, lo cho duyên phận cũng là điều dễ hiểu: “Thân em như tấm lụa đào, phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?”. Nhiều chị trách người: “Chợ chiều nhiều khế ế chanh, nhiều con gái tốt nên anh chàng ràng”, rồi cũng tự hờn dỗi: “Trắng da vì bởi phấn dồi, đen da vì bởi em ngồi chợ trưa”. Rồi cũng có chị đanh đá:“Anh như tán tía tán vàng, em như manh chiếu bà hàng bỏ quên. Lạy trời cho cả gió lên, cho manh chiếu rách lên trên tán vàng”.
“Trai khôn tìm vợ chợ đông”, ấy nên ngày xưa các chàng trai hay đến chợ ghẹo gái: “(Hò ơ...) Đi vô gặp em bán trầu, đi ra gặp em bán mắm, thấy em đằm thắm anh thương. Em ơi, em về thưa lại với song đường, cho cha mẹ anh đưa mai dong tới nói, mà vợ chồng kết đôi”. Còn đây là lời tỏ tình của một lái thương dạn dày trận mạc: “Chợ Sài Gòn chà gạo lức, chợ Bến Lức chà gạo vàng, chợ Sóc Trăng chà gạo lợn trấu càng... Anh thương em là thương lời ăn tiếng nói dịu dàng, chớ không phải thấy em bịt răng vàng mà thương”. Các cô gái cũng không kém: “Nhất nhật tiểu thân, chớ nhà cửa của anh mô (mà) em không có biết, (mà) gặp anh giữa (ơ hờ) đường, em làm răng quyết thương anh (ơ hờ)”. “Chợ Bình Thủy bán bánh bao chỉ, chợ Sài Gòn bán bánh bích quy. Anh đấng làm trai sao không biết nghĩ suy; vợ anh còn, con anh sẵn, nghĩa lý gì anh thương em”...
*
Trong Nam, nổi tiếng có “Bến Tre lắm gái chưa chồng, không tin xuống chợ Mỹ Lồng mà coi”. Còn ở Huế đa tình? Xưa, Kim Long cũng là “miền gái đẹp”. Mỗi lần Kim Long có buổi chợ phiên là các sĩ tử, các công tử, và thậm chí vua chúa cũng mặc giả thường dân trà trộn vào chợ để tìm mỹ nữ. Chao ôi là giữa chợ mà tiếng dạ của cô hàng xén nghe ngọt thấu tận tim can, làm răng chân đi đặng? Hèn chi mà: “Học trò xứ Quảng ra thi, thấy cô gái Huế chân đi không đành”. Kim Long là miền thanh trà ngon ngọt có tiếng ngon nhất nhì Huế, thanh trà trộn mực khô Thuận An xé nhỏ, nhắm với chén rượu trắng của làng ngay giữa chợ, thấy các cô yếm xanh, yếm trắng lại qua, làm sao cầm lòng đậu? Khi Nguyễn Công Trứ viết bài thơ minh họa cho triết lý ham chơi của mình: “Lênh đênh một chiếc thuyền nan, một cô gái Huế, một quan đại thần...” chắc chắn là đã nhiều lần ghé chợ Kim Long rồi. Con gái nhà lành ở Kim Long không ra khỏi nhà nếu không đi chợ, vậy nên vua có muốn ngắm con gái nhà người thì cũng phải lên chợ mới mong gặp mặt. Vậy nên vua có câu: “Kim Long có gái mỹ miều, trẫm thương trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm lên”, lên đây là lên chợ chứ còn đi đâu nữa?
Truyền rằng Huế có một cái chợ tưng bừng tình yêu là chợ Cống. Ngày xưa, và nay cũng vậy. Người dân quanh chợ cho học trò học các trường Quốc Học, Hồ Đắc Đàm, An Cựu... thuê ở trọ rất đông. Chợ nằm bên sông Như Ý, ngó qua Vỹ Dạ tre trúc, và bóng các học trò áo trắng làm động lòng các cô gái bán hàng la-ghim ở các làng Bãi Dâu, Vỹ Dạ... đi đò sang. Người ta bảo các cô ngày nào cũng gánh rau đi bán, nhưng bán không hết vì quá mải mê mấy cậu học trò, rằng: “Giả đò buôn hẹ bán hành, vô ra chợ Cống thăm anh kẻo buồn”. Ngày xưa, những năm 1930, Xuân Diệu cũng từng trọ học ở chợ Cống, có lẽ vì thấy người kẻ chợ yêu mãnh liệt quá mà từ đó đâm ra làm thơ tình hay đến mức đứng nhất nhì thi đàn Việt Nam đó chăng? Cũng vì cô hàng rau muống mà Nguyễn Bính mới có bài thơ “Giời mưa ở Huế sao buồn quá”, trong đó có câu: “Nón lá áo tơi ra quán chợ, trơ vơ trên bến nước sông đầy...”.
Tỏ tình ở chợ muôn hình vạn trạng, nào ai mà không nhớ có một lần...
Hồ Đăng Thanh Ngọc

Ý kiến bạn đọc