Hội tụ trí tuệ, định hình tương lai và khát vọng phát triển

 

 

Với tầm nhìn chiến lược hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước, Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ tạo ra những "cú hích" mạnh mẽ giải phóng mọi nguồn lực xã hội, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Theo dõi sát sự kiện đặc biệt này, các đại biểu trí thức, chuyên gia của tỉnh Đắk Lắk bày tỏ sự tin tưởng tuyệt đối vào bản lĩnh và trí tuệ của Đảng; đồng thời gửi gắm những hiến kế về "cơ hội vàng" để tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển dịch từ dựa vào tài nguyên sang tri thức - công nghệ, thực hiện phân cấp mạnh mẽ đi đôi với giám sát quyền lực chặt chẽ…

 

Theo dõi diễn tiến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tôi nhận thấy, điểm khác biệt rõ nét nhất so với trước đây là sự ngắn gọn nhưng vô cùng súc tích. Việc hợp nhất các văn kiện thành một bản tổng thể giúp nội dung trở nên dễ hiểu, dễ tiếp nhận hơn. Đây là một bước tiến rất đáng ghi nhận, thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy tổ chức. Điều này càng củng cố niềm tin rằng từ nay, đất nước thực sự bước vào một thời kỳ phát triển mới, tiếp nối đà phấn khởi từ nhiệm kỳ XIII – một nhiệm kỳ đầy gian khó nhưng chúng ta đã vượt qua ngoạn mục, thậm chí vượt nhiều chỉ tiêu đề ra.

 

 

 

Trong bài phát biểu, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh Đại hội XIV là dấu mốc mở ra kỷ nguyên vươn mình. Những thành quả từ 40 năm đổi mới chính là tiền đề vững chắc để chúng ta tự tin hướng tới mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045. Quan trọng hơn cả là Đảng thực sự quan tâm đến đời sống xã hội, từ đó được Nhân dân tin tưởng, bạn bè quốc tế ca ngợi và kiều bào ủng hộ. Niềm tin ấy chính là động lực để phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên luồng sinh khí mới.

Chúng ta mở các chiến dịch phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ rất nhanh, tinh thần rất quyết liệt, đó là điều rất quý. Tuy nhiên, trong niềm phấn khởi chung ấy, chúng ta cũng cần đặc biệt lưu ý đến chất lượng, tránh tình trạng làm gấp gáp, chạy theo phong trào mà bỏ quên các yếu tố bền vững. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là chặng đường dài, nên nhanh phải đi đôi với chắc chắn. Tương tự, chủ trương sáp nhập địa phương, tổ chức chính quyền hai cấp là rất đúng đắn, nhưng cần thời gian để củng cố, khắc phục những nhược điểm ban đầu để bộ máy thực sự phát huy hiệu quả.

Riêng đối với Đắk Lắk, việc sáp nhập mở rộng không gian phát triển giúp bổ sung tiềm năng giữa các vùng: vùng có lợi thế về kinh tế biển, thủy sản kết hợp với vùng rừng núi thuận lợi cho cây công nghiệp. Quỹ đất rộng mở là cơ hội lớn để phát triển các khu công nghiệp chế biến sâu nông, lâm sản.

Để phát huy sức mạnh tổng hợp này, đặc biệt tại các địa bàn có truyền thống lịch sử và đa dạng văn hóa, cần khéo léo kết hợp giữa truyền thống cách mạng của người dân tại chỗ và sự năng động của bà con kinh tế mới. Phải làm sao “xâu lại”, tập hợp lại thành sức mạnh chung. Đồng thời, cần quy hoạch sớm và bài bản ngay từ đầu, tránh tình trạng xây dựng tự phát, lộn xộn gây khó khăn cho việc giải phóng mặt bằng hay chỉnh trang đô thị sau này.

Đắk Lắk là địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số với đa dân tộc. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, muốn ổn định và phát triển, phải đặc biệt quan tâm đến chính sách dân tộc, nhất là giáo dục song ngữ cho con em đồng bào ngay từ bậc tiểu học để gìn giữ tiếng nói và chữ viết.

Đồng thời, cần hết sức cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch hòng chia rẽ khối đại đoàn kết. Việc quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào tại chỗ, kết hợp với sự giao thoa văn hóa của đồng bào các dân tộc phía Bắc vào lập nghiệp đã tạo nên bức tranh đa dạng, bổ sung cho nhau rất tốt, nhưng cũng đòi hỏi sự lãnh đạo sâu sát, tinh tế của Đảng bộ địa phương.

Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh về công tác cán bộ. Người lãnh đạo trong thời kỳ mới năng lực là cần thiết, nhưng đạo đức, phẩm chất và ý thức kỷ luật phải là gốc. Nếu có tài mà không chịu rèn luyện, không ghép mình vào khuôn khổ thì rất dễ sa ngã trước những cám dỗ và sự chống phá của kẻ thù.

Vì vậy, xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh ngay từ cơ sở là nhiệm vụ sống còn. Trong mô hình chính quyền mới, nếu cán bộ cấp trên chỉ ngồi nghe báo cáo, quan liêu, không đi sâu đi sát để kiểm tra, uốn nắn thì rất nguy hiểm. Chỉ có bám sát cơ sở, hiểu rõ lòng dân thì mới giữ vững được bình yên, phát triển kinh tế - xã hội và đưa Nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống.

 

Một trong những thông điệp ấn tượng mà Đại hội đặt ra chính là mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Chúng ta không chỉ dừng lại ở sự ổn định, mà hướng tới sự bứt phá với mục tiêu tăng trưởng GDP đạt hai con số từ năm 2026 trở đi. Đây là một khát vọng lớn, nhưng hoàn toàn có cơ sở thực tiễn nếu nhìn vào thế và lực của đất nước hiện nay.

Để hiện thực hóa những mục tiêu vĩ mô đó, yếu tố tiên quyết không nằm ở văn bản, mà nằm ở con người. Trong bối cảnh thế giới biến đổi khôn lường, công nghệ số phát triển như vũ bão, chúng ta không thể điều hành đất nước bằng tư duy cũ, bằng những ý chí chủ quan đơn thuần. Người lãnh đạo trong thời kỳ mới phải là người có tư duy trí tuệ sắc bén, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và biết đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết.

Điều tôi đặc biệt kỳ vọng không chỉ là sự lựa chọn nhân sự ở cấp Trung ương, mà tinh thần này phải lan tỏa xuống việc lựa chọn người đứng đầu ở các địa phương. Thực tiễn cho thấy, dù chủ trương của Trung ương có đúng đắn đến đâu, nghị quyết có hay đến mấy, nhưng nếu người đứng đầu địa phương thiếu năng lực, thiếu nhiệt huyết hoặc “sợ sai không dám làm”, thì nghị quyết đó cũng chỉ nằm trên giấy. Sự đồng bộ về chất lượng cán bộ từ Trung ương đến cơ sở chính là mắt xích quan trọng nhất để cỗ máy hành chính vận hành trơn tru.

Bên cạnh đó, đối với vấn đề phân cấp, phân quyền, tôi cho rằng, sau Đại hội này, Đảng và Nhà nước cần có những bước đi mạnh mẽ hơn nữa trong việc phân cấp cho địa phương. Nếu Trung ương không mạnh dạn phân quyền, các địa phương sẽ rơi vào thế bị động, trông chờ, ỷ lại, triệt tiêu mất tính năng động sáng tạo. Tuy nhiên, giao quyền lực phải đi kèm với cơ chế kiểm soát.

Đây là vấn đề mang tính sống còn. Trao quyền mà không giám sát sẽ dẫn đến nguy cơ lạm quyền, lợi dụng chức vụ để trục lợi, làm lệch lạc chủ trương của Đảng; điều này là hoàn toàn có thể xảy ra nếu thiếu “cơ chế phanh” hiệu quả.

Vì vậy, kỳ vọng lớn nhất của cử tri và nhân dân là Đảng phải thiết lập được một cơ chế giám sát quyền lực thực sự nghiêm minh, khoa học, chặt chẽ. Giám sát không phải để kìm hãm, mà là để giữ cho cán bộ đi đúng đường ray, để quyền lực thực sự phục vụ cho mục đích công.

Nhìn lại chặng đường lịch sử, từ một đất nước bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, nghèo đói, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta đã làm nên kỳ tích. Những con số nổi bật như tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, quy mô nền kinh tế ngày càng mở rộng, vị thế quốc tế ngày càng nâng cao... là minh chứng rõ nét.

Tất nhiên, trong quá trình phát triển, không tránh khỏi những “con sâu làm rầu nồi canh”, một bộ phận đảng viên thoái hóa đã làm ảnh hưởng đến hình ảnh của Đảng. Nhưng chính sự quyết liệt trong công tác chỉnh đốn Đảng, “không có vùng cấm” đã càng thêm củng cố vững chắc niềm tin trong Nhân dân.

Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng về văn kiện, sự nghiêm túc trong công tác nhân sự, khí thế của kỷ nguyên vươn mình và sự thành công rực rỡ của Đại hội, tôi tin rằng các chủ trương, nghị quyết của Đảng sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống, thấm sâu vào từng tế bào của xã hội, để mục tiêu tăng trưởng hai con số và khát vọng về một Việt Nam hùng cường sẽ sớm được hiện thực hóa.

Theo dõi sự kiện trọng đại của đất nước - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tôi nhận thấy đây là một cơ hội lịch sử đặc biệt. Chúng ta đang đứng trước sự cộng hưởng của nhiều yếu tố then chốt: Chiến lược đổi mới từ Đại hội Đảng; chủ trương sáp nhập các tỉnh giúp mở rộng không gian phát triển; và việc chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương từ ba cấp sang hai cấp. Tất cả tạo nên một bước ngoặt lớn, một “cơ hội vàng” cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và khu vực duyên hải Nam Trung bộ - Tây Nguyên nói riêng tái cấu trúc và bứt phá. 

Một trong những vấn đề cốt lõi mà tôi đánh giá cao trong giai đoạn này là tác động của việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh. Khi các tỉnh Tây Nguyên được sáp nhập với các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, chúng ta không nên nhìn nhận đó chỉ là sự cộng gộp cơ học về dân số hay diện tích. Sâu xa hơn, đó là sự xóa bỏ các rào cản hành chính để mở rộng không gian phát triển đa chiều.

Trước đây, tư duy kinh tế của Tây Nguyên thường bị giới hạn trong không gian địa lý đặc thù của vùng cao nguyên. Các trụ cột phát triển chủ yếu xoay quanh kinh tế nông nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao hay gần đây là năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, với cấu trúc địa lý mới sau sáp nhập, không gian phát triển được mở rộng xuống biển. Điều này cho phép chúng ta tư duy về những ngành kinh tế hoàn toàn mới mà trước đây Tây Nguyên chưa có hoặc khó làm, ví dụ như logistics, kinh tế biển, chuỗi dịch vụ du lịch kết nối rừng - biển…

Để biến tiềm năng thành hiện thực, đặc biệt với một địa bàn trải dài rộng như Đắk Lắk hiện nay, bài toán hạ tầng giao thông trở thành vấn đề sống còn. Nếu không có hệ thống giao thông kết nối thông suốt, đồng bộ, thì khoảng cách địa lý sẽ trở thành rào cản chia cắt thay vì lợi thế. Giao thông phải đi trước mở đường, biến khoảng cách địa lý thành lợi thế logistics, từ đó mới hình thành được các hành lang kinh tế thực thụ kết nối hai cực tăng trưởng của tỉnh.

Để tận dụng cơ hội mà Đại hội XIV và bối cảnh mới mang lại, các địa phương cần một cuộc cách mạng thực sự về tư duy quản trị và mô hình tăng trưởng. Chúng ta phải dũng cảm chấp nhận một thực tế: Cần giảm bớt sự tập trung vào những giá trị sẵn có, những lợi thế “trời cho” trước đây như khai thác tài nguyên thô hay phát triển nông nghiệp đơn thuần.

Thay vào đó, mô hình phát triển mới phải dựa trên nền tảng của công nghệ mới, của đổi mới sáng tạo và sức mạnh của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Chúng ta phải dám nghĩ, dám làm, thậm chí dám “gác lại” những mô hình đã từng mang lại thành công trong quá khứ nhưng giá trị gia tăng thấp, để dồn lực nắm bắt những cơ hội lớn hơn, toàn diện hơn. Ví dụ, phát triển logistics hay kinh tế số không thể dựa trên tư duy cục bộ, manh mún, mà phải là tư duy liên kết vùng, dựa trên nền tảng hạ tầng hiện đại và quản trị thông minh. Đó mới là cách để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển vào năm 2045.

Với vai trò là một cơ sở giáo dục đại học vùng, Trường Đại học Tây Nguyên nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc hiện thực hóa các Nghị quyết của Trung ương. Nhà trường không chỉ là nơi đào tạo, cấp bằng, mà phải xác định mình là một trung tâm kiến tạo tri thức, đào tạo ra những con người có năng lực thích ứng, có khả năng khai thác cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và nắm bắt các cơ hội từ đổi mới sáng tạo.

Đồng thời, chúng tôi xác định nhà trường phải là một trong những nguồn tạo ra công nghệ mới cho sự phát triển của vùng Tây Nguyên. Với nhiệm vụ đó, chắc chắn bản thân Trường Đại học Tây Nguyên cũng phải tự đổi mới, tự thay đổi để phù hợp với các định hướng đã được thể hiện rất rõ trong các nghị quyết. Chúng tôi phải nắm bắt cơ hội của thời đại để chuyển mình, đáp ứng yêu cầu phát triển của vùng, đặc biệt là hướng tới mục tiêu trở thành một trung tâm đào tạo chất lượng cao và trung tâm chuyển giao khoa học công nghệ của khu vực.

Quyết sách là định hướng, là con đường. Để hiện thực hóa các quyết sách đó, chúng ta cần những con người cụ thể, với những năng lực cụ thể để triển khai chiến lược phát triển. Khi chúng ta đã có con đường, thì việc thực hiện con đường đó là hoàn toàn khả thi. Vấn đề còn lại là chúng ta phải nỗ lực hết sức để đạt được kết quả từ các định hướng quan trọng đó.

Tôi nghĩ rằng Đại hội lần này đã chỉ ra hết sức cụ thể con đường để đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển trong thời gian tới. Và chắc chắn rằng khi chúng ta kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước, mục tiêu chúng ta đặt ra sẽ đạt được: Việt Nam sẽ trở thành một nền kinh tế phát triển.

Qua theo dõi Đại hội XIV của Đảng có thể thấy rằng Đảng ta đã hình thành một hệ định hướng chiến lược mới, nhất quán và có chiều sâu, nhằm đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

 

Thứ nhất, đó là sự chuyển dịch mô hình phát triển: Từ “tài nguyên – lao động” sang “tri thức – công nghệ – đổi mới sáng tạo”. Đại hội XIV khẳng định rõ: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu của tăng trưởng nhanh và bền vững.

Nhận định này đánh dấu bước chuyển căn bản về mô hình phát triển quốc gia. Chúng ta không còn phát triển theo chiều rộng, không chỉ dựa vào vốn, tài nguyên và nhân công giá rẻ; sản xuất nông nghiệp không còn chạy theo sản lượng thô mà chuyển sang giá trị. Thay vào đó, sự phát triển phải dựa trên chất lượng tri thức, năng lực công nghệ và sự sáng tạo xã hội.

Với góc nhìn của trí thức khoa học – kỹ thuật, tôi cho rằng đây là lần đầu tiên tri thức khoa học không còn là “lĩnh vực hỗ trợ” mà được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Trí thức không chỉ dừng lại ở vai trò “nghiên cứu – tư vấn” mà phải thiết kế mô hình phát triển và dẫn dắt công cuộc đổi mới; làm cầu nối thực sự giữa chủ trương và thực tiễn: chuyển Nghị quyết thành dự án, chuyển chiến lược thành mô hình thí điểm, đưa chuyển đổi số đi sâu vào từng xã, trường học, hợp tác xã và người dân; là lực lượng phản biện khoa học có trách nhiệm và truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, gieo khát vọng học tập, sáng tạo, định hướng nghề nghiệp gắn với nhu cầu địa phương và hình thành lớp trí thức trẻ bản lĩnh, nhân văn, làm chủ công nghệ.

Thứ hai, đó là xây dựng nền kinh tế dựa trên khoa học – công nghệ hiện đại và năng lực nội sinh. Báo cáo Chính trị Đại hội XIV đã xác lập các trụ cột công nghệ then chốt bao gồm: Công nghệ số, Trí tuệ nhân tạo (AI), Dữ liệu lớn (Big Data), Công nghệ sinh học, Công nghệ năng lượng mới, Công nghệ vật liệu và tự động hóa. Quan điểm của Đảng không chỉ là "tiếp nhận công nghệ" mà phải từng bước làm chủ và sáng tạo công nghệ.

Trong bối cảnh đó, trí thức khoa học – kỹ thuật được đặt vào 3 vai trò chiến lược mới: Người kiến tạo công nghệ (Creator); người chuyển giao và thương mại hóa tri thức (Translator); người kết nối giữa Nhà nước – Doanh nghiệp – Xã hội (Integrator). Để thực hiện được các vai trò này, đòi hỏi phải có cơ chế vượt ra ngoài mô hình "viện, trường, phòng thí nghiệm thuần túy" để mở rộng sang hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Thứ ba là đột phá thể chế để “giải phóng trí tuệ xã hội”. Đại hội XIV xác định: Thể chế là điểm nghẽn lớn nhất, đồng thời là khâu đột phá quan trọng nhất. Từ góc nhìn khoa học – kỹ thuật, nếu không có thể chế phù hợp, tri thức không thể biến thành giá trị; không có tự do sáng tạo thì không có đổi mới thực chất.

Đảng ta đã có sự nhìn nhận quan trọng là chuyển từ tư duy “quản lý trí thức” sang “trọng dụng và kích hoạt trí thức”. Theo đó, định hướng chiến lược thể chế mới cần tập trung vào: Trao quyền tự chủ thực chất cho các viện nghiên cứu, trường đại học; chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và thử nghiệm khoa học; đổi mới cơ chế sử dụng và đãi ngộ trí thức dựa trên năng lực, sản phẩm và tác động xã hội thực tế.

Thứ tư, đó là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, lấy trí thức làm trụ cột quốc gia. Đại hội XIV không chỉ nói đến “đào tạo nhân lực” chung chung, mà nhấn mạnh vào việc phát triển con người toàn diện; hình thành đội ngũ trí thức tinh hoa, chuyên gia đầu ngành; gắn đào tạo với nhu cầu phát triển của đất nước và từng địa phương.

Trí thức khoa học – kỹ thuật giờ đây được xác định là “tài nguyên chiến lược”, là lực lượng cạnh tranh quốc gia và là chủ thể của khát vọng phát triển. Điều này mở ra không gian cống hiến to lớn cho trí thức trẻ, trí thức Việt Nam ở nước ngoài và đặc biệt là trí thức tại các địa phương, vùng sâu vùng xa như Đắk Lắk. 

Đại hội XIV đặt ra yêu cầu: Khát vọng phát triển phải được hiện thực hóa bằng năng lực khoa học, công nghệ và quản trị hiện đại. Chúng ta không thể “vươn mình” nếu thiếu năng lực công nghệ lõi, thiếu đội ngũ trí thức dẫn dắt và thiếu tư duy khoa học trong quản trị quốc gia. Trong kỷ nguyên mới, trí thức không thể đứng ngoài cuộc. Sứ mệnh lịch sử của trí thức là biến khát vọng thành mô hình, biến nghị quyết thành giải pháp khả thi, biến tiềm năng thành năng suất và sức cạnh tranh…

Đại hội XIV của Đảng là kỳ đại hội hoạch định con đường đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên vươn mình và hướng đến hiện thực hóa hai mục tiêu: 100 năm thành lập Đảng và trở thành nước đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và 100 năm thành lập nước, trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Hệ thống văn kiện trình Đại hội lần này thể hiện rõ chiều sâu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và tinh thần trách nhiệm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Các văn kiện không chỉ tổng kết khách quan, khoa học chặng đường phát triển vừa qua mà còn định hình tầm nhìn chiến lược dài hạn cho sự phát triển đất nước trong “kỷ nguyên vươn mình”, qua đó tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo, sức sống và khả năng cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới.

Văn kiện là sự kết hợp chặt chẽ, khoa học giữa tư duy kế thừa với đổi mới, đột phá và tổng kết thực tiễn sinh động, sâu sắc; là kết quả của việc phát huy dân chủ trong Đảng và xã hội, thể hiện sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, đồng thời tiếp thu tinh hoa, trí tuệ của nhân loại để giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra đối với đất nước.

Báo cáo chính trị lần này được nhận định là mang đậm hơi thở của “kỷ nguyên vươn mình”, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và đổi mới mạnh mẽ. Điểm mới mang tính đột phá về tư duy xây dựng Đảng là tư duy đổi mới mạnh mẽ về xây dựng Đảng gắn chặt với xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có khát vọng cống hiến và năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập sâu rộng.

Bên cạnh đó, tư duy về xây dựng Đảng coi phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là động lực phát triển kinh tế – xã hội, mà còn là yêu cầu nội tại của công tác xây dựng Đảng. Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý, kiểm tra, giám sát, trong công tác cán bộ và trong nắm bắt tình hình tư tưởng xã hội cho thấy cách tiếp cận hiện đại, phù hợp với bối cảnh cách mạng 4.0, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đồng thời góp phần nâng cao tính minh bạch, kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.

Tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” được nhấn mạnh như một đột phá về tư duy và hành động trong xây dựng đội ngũ cán bộ. Đây là bước phát triển quan trọng về nhận thức, vừa khuyến khích đổi mới, sáng tạo, vừa thiết lập hành lang pháp lý và cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, từ đó tạo động lực mạnh mẽ để công tác xây dựng Đảng thực sự theo kịp yêu cầu của “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc.

Để triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV vào thực tiễn đời sống, nhất là tại tỉnh Đắk Lắk, cần có một tâm thế hành động chủ động, sáng tạo và trách nhiệm. Trước hết là phải làm tốt công tác quán triệt, tuyên truyền, chuyển tải tinh thần cốt lõi của Nghị quyết theo hướng dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, gắn chặt với điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa và con người Đắk Lắk.

Đồng thời, cần cụ thể hóa Nghị quyết thành chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ sát thực tiễn, có lộ trình, có sản phẩm rõ ràng. Quan trọng hơn là phải phát huy được vai trò tiên phong, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất, đồng thuận, khơi dậy khát vọng phát triển và ý chí tự lực, tự cường để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống và trở thành động lực thúc đẩy Đắk Lắk phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Thực hiện: Lan Anh – Như Quỳnh

Ảnh: P.V, CTV

Đồ họa: Công Định
 

Ý kiến của bạn