Lần giở chuyện xưa về “cầu hiền” và “chiêu hiền đãi sĩ” cho chúng ta nhiều điều suy ngẫm. Đó chính là những bài học đầy ý nghĩa về vai trò kẻ sĩ và cách sử dụng người tài theo đạo lý “phi trí bất hưng”, “tìm lẽ trị bình, lấy tuyển nhân tài làm gốc”...
1. Xuân Bính Ngọ về, chợt nhớ câu: “Nãi công cư mã thượng nhi đắc thiên hạ, an sự thi thư” (Ông mày ngồi trên lưng ngựa mà lấy được thiên hạ, cần gì học hành, đọc sách) của Hán Cao Tổ Lưu Bang, người sáng lập nên cơ nghiệp gần 500 năm nhà Hán bên Trung Hoa. Xuất thân bình dân, là một ông vua thô lỗ và ít học, Lưu Bang đã từng có lúc ngộ nhận rằng trí thức và tri thức không đóng góp được gì cho sự nghiệp bá vương của mình. Nhưng Lưu Bang kịp nhận ra rằng: Có thể ngồi trên lưng ngựa mà lấy được thiên hạ nhưng không thể ngồi trên lưng ngựa mà cai trị thiên hạ. Ông kịp nhận ra được chân giá trị, sự cống hiến của trí thức và tri thức, biết chiêu hiền đãi sĩ và trọng dụng nhân tài để ổn định quốc gia, mở mang nghiệp đế. Bởi vậy, nhiều nho sĩ tài năng đã được thu nạp về dưới trướng Lưu Bang như Lịch Tự Cơ, Lục Giả, Thúc Tôn Thông… và các bậc thức giả ấy đã góp nhiều công sức cùng Hán Cao Tổ xây dựng một vương triều thịnh trị kéo dài trong lịch sử Trung Quốc.
Thời phong kiến, trật tự “trên - dưới” là một nguyên tắc bất di bất dịch. Kẻ dưới gặp người trên là phải “hạ mã” (xuống ngựa) vái chào. Thế nhưng, sử sách còn ghi, có những “người trên” đã phải “xuống ngựa” để thu phục nhân tâm “kẻ dưới”. Thời Tam Quốc, Lưu Bị chỉ là anh chàng dệt chiếu kém học nhưng chính nhờ biết nhún mình “tam cố thảo lư” (ba lần đến lều cỏ), một dạ chân thành trọng thị mà đã được Khổng Minh Gia Cát Lượng đền ơn tri ngộ, trở thành bậc quân sư - mưu sĩ số một giúp Lưu Huyền Đức gầy dựng thành công sự nghiệp vào đời Hậu Hán trải trong 40 năm…
2. Lật lại sử ta, có không ít chuyện về thái độ khiêm nhường của các bậc đế vương khi họ biết vì đại nghĩa mà sẵn sàng “hạ mình” trước các bậc danh sĩ. Thái độ cầu hiền của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ mà sau này trở thành Hoàng đế Quang Trung là một ví dụ. Người anh hùng áo vải đất Tây Sơn đã lấy tâm đức, khí chất, tài thao lược của mình để thu phục sĩ phu Bắc Hà trong sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, dẹp yên loạn tặc và canh tân đất nước. Về dưới trướng Quang Trung là đông đảo các danh sĩ vốn một mực chỉ phò nhà Lê, đặc biệt là Ngô Thời Nhậm. Dưới triều Lê, Nhậm chỉ là một viên quan bình thường nhưng với “biệt nhãn” của Quang Trung, ông đã trở thành một nhà tham mưu vô song của triều Tây Sơn.
![]() |
| Khuê Văn Các - biểu tượng trường tồn của văn hóa Việt Nam. |
Với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng vậy. Giữa Quang Trung và Nguyễn Thiếp là một mối quan hệ đặc biệt độc đáo, không thực sự là “vua - tôi” vì Phu Tử vẫn giữ lòng trung với nhà Lê không hẳn theo Tây Sơn, có lẽ giữa Quang Trung và Nguyễn Thiếp là mối giao tình tri âm bởi có chung lý tưởng vì dân, vì nước. Đọc lại những sử liệu của học giả Hoàng Xuân Hãn trong sách “La Sơn Phu Tử” và các tài liệu khác như “Lê mạt tiết nghĩa liệt”, “Dã sử nhật ký”, “Thối thực ký văn” càng hiểu thêm về tài năng, nhân cách của Danh nhân Nguyễn Thiếp và thái độ cầu hiền nhất mực khiêm cung của Hoàng đế Quang Trung. Điều đó cũng được thể hiện từ nội dung những bức thư trao đổi qua lại và những đối đáp trong cuộc tiếp kiến giữa hai nhân vật kiệt xuất trong lịch sử nước nhà dưới chân núi Phượng Hoàng ở vùng Chân Lộc, Nghệ An…
3. Chuyện chiêu hiền đãi sĩ càng được chứng minh rất rõ trong thời đại chúng ta, thời đại Hồ Chí Minh. Tấm lòng thiết tha kêu gọi, sự tỏa sáng trí tuệ và nhân cách vĩ đại của Bác đã có sức hấp dẫn rất lớn khiến cho các nhân sĩ tài cao, đức trọng trong chế độ trước đã tích cực hợp tác với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Đó là những tên tuổi nổi tiếng, từng là quan lại tối cao như Bùi Bằng Đoàn (Thượng thư Bộ Hình triều Nguyễn); Phan Kế Toại (Khâm sai đại thần Bắc Bộ của Chính phủ Trần Trọng Kim); Phạm Khắc Hòe (Đổng lý Ngự tiền triều đình Bảo Đại). Rồi Tham tri Đặng Văn Hướng, cựu Tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định; cựu Tổng đốc Hà Đông Hồ Đắc Điềm; cụ Ưng Úy (thành viên hoàng tộc nhà Nguyễn); nhà Hán học nổi tiếng Bùi Kỷ; luật sư Phan Anh (Tổng trưởng Thanh niên Chính phủ Trần Trọng Kim)...
Đặc biệt, các nhà khoa học đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài đã sẵn sàng từ bỏ sự đãi ngộ và cuộc sống cao sang xứ người, trở về với Tổ quốc và Nhân dân, tích cực tham gia kháng chiến, kiến quốc trong điều kiện vô cùng gian khổ và hiểm nguy của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tấm lòng thành tâm của Bác đã khơi dậy tinh thần yêu nước và con đường chính nghĩa của các bậc thức giả chân chính. Đất nước đã được đón về các bác sĩ, kỹ sư, nhà nghiên cứu nổi tiếng và chính họ đã cùng đội ngũ trí thức Việt Nam góp nhiều công sức cho sự nghiệp cách mạng; có thể kể tên: Hoàng Minh Giám, Vũ Đình Tụng, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa (Phạm Quang Lễ), Trần Hữu Tước, Lương Định Của, Nguyễn Văn Huyên, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Xiển, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Trịnh Đình Thảo, Trần Đức Thảo, Ngụy Như Kon Tum…
Trong hồi ký của mình, viện sĩ Trần Đại Nghĩa từng viết: “Đặc biệt đối với chúng tôi là những trí thức ở nước ngoài về, sắp sửa bước vào cuộc đấu tranh gian khổ, Bác chú ý đi sâu vào tâm tình, khơi gợi lòng yêu nước, củng cố niềm tin ở bản thân, tin ở tập thể, tin ở cách mạng nhất định thắng lợi. Lời nói tin yêu của Bác đã cảm hóa và chinh phục trái tim chúng tôi”. Giáo sư Tôn Thất Tùng cũng từng bày tỏ: “Tôi ở một thành phần mà con đường duy nhất là đi đến phản cách mạng, thế mà nhờ sự giáo dục của Đảng, tôi lại được thưởng huân chương. Hôm nay ở ngực tôi không chỉ một huân chương mà nhiều huân chương, tôi lại được tuyên dương là Anh hùng Lao động. Làm sao tại buổi này tôi lại không cảm động được, không nhắc đến công ơn của Đảng, của Bác…”.
* * *
Luận đề của chí sĩ Thân Nhân Trung thảo vào năm 1483 được tạc trong bia đá ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám lưu lại vẫn vô cùng sâu sắc: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...”.
Trong thời đại ngày nay, thời của kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam; thời đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, thời của kinh tế tri thức và cuộc cách mạng số thì vai trò của trí thức lại càng vô cùng quan trọng. Bởi vậy, đội ngũ trí thức cần được hết sức tôn trọng, cần được tập hợp tạo thành một nguồn lực mạnh mẽ. Họ cũng rất cần không gian, cơ hội, điều kiện làm việc và cống hiến tốt; cần một nguồn lực đầu tư, sự ưu đãi về đời sống và môi trường dân chủ để được đóng góp trí tuệ, công sức vào sự nghiệp kiến thiết, dựng xây đất nước.
Uông Thái Biểu

