Quyền lực dưới bóng cây nêu

Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên, dưới bóng cây nêu, già làng thực sự là một “thiết chế” quyền lực; nhìn vào uy tín người già của làng nào sẽ biết được làng đó mạnh mẽ hay yếu ớt…

1. Trong xã hội Tây Nguyên xưa, già làng là người có uy tín, người biết giải mã các giấc mơ của lũ làng, người thay dân làng đối thoại với thần linh, tìm kiếm sự phù trợ và che chở của Yàng đối với đồng bào trong các biến động. Hành xử mỗi ngày, già làng biết cách lựa chọn phương án thông minh nhất, đúng đắn nhất, phù hợp nhất nhằm phục vụ lợi ích cộng đồng. Đó là người có tiếng nói quyết định trong việc tìm đất lập làng, chọn mở bến nước, người đưa ra mệnh lệnh chiến tranh, giải quyết vấn đề dịch bệnh hay là “cầm trịch” xử lý các vấn đề lớn nhỏ phát sinh mỗi ngày. Người được chọn làm già làng là một vinh dự lớn lao nhưng cũng tiếp nhận một sứ mệnh cực kỳ quan trọng. Vì vậy, họ xứng đáng là niềm kiêu hãnh của buôn làng này với buôn làng khác, ngay cả trước thần linh, núi rừng, thiên nhiên…

Già làng K’Tiếu truyền dạy cồng chiêng cho các bạn trẻ Kơ Ho.

Sự kiện chọn già làng là một “nghị sự” quan trọng. Đó là diễn đàn thể hiện cao nhất tinh thần xây dựng và cố kết cộng đồng. Luật tục và các bài ca dao của các tộc người Tây Nguyên có rất nhiều nội dung về mục đích và tiêu chí chọn già làng. Theo quan điểm của người Êđê, người được chọn làm già làng không những “vừa lòng dân” mà còn đúng ý của thánh thần, thiên nhiên, cỏ cây, núi nước: “Hãy bàn bên dưới/ Hãy cãi bên trên/ Nào bàn cùng anh/ Nào cãi cùng chị/ Có gì cứ nói!/ Hãy chọn người ưa/ Sao vừa cây đa, ngọn nước/ Sao đúng cây sung trước làng/ Chọn nên người coi sóc anh em/ Coi khắp cả dân làng…”. Cứ như thế, già làng được suy tôn một cách tự nhiên…

2. Ngày xưa, các dân tộc thiểu số Tây Nguyên sống theo hình thức cộng đồng khép kín, đơn vị xã hội cơ bản cao nhất trong xã hội cổ truyền còn lưu dấu đậm nét cho đến ngày nay là làng. Làng ở Tây Nguyên (bon trong tiếng M’nông; buôn trong tiếng Êđê hay Kơ Ho, Mạ; plai trong tiếng J’rai; veil trong tiếng Cơ Tu; plei trong tiếng Chu Ru…) là một chỉnh thể. Người ta thường nói, người Tây Nguyên có tính cộng đồng cao thì đó là tính cộng đồng làng, thậm chí “tính làng” còn sâu đậm và cụ thể hơn cả ý thức tộc người.

Các già làng Tây Nguyên luôn đồng hành với cấp ủy, chính quyền trong công tác lãnh đạo, vận động đồng bào vùng dân tộc thiểu số.

Làng Tây Nguyên từng là một thiết chế xã hội bền vững, quy củ. Làng được điều hành bằng già làng và “hội đồng già làng” - tập hợp những người hiền minh nhất của làng. Hội đồng già làng từng quản lý, điều hành mọi hoạt động của làng bằng một “hệ thống luật pháp” cổ truyền đặc biệt: luật tục. Cho đến nay, luật tục Tây Nguyên vẫn tồn tại song hành cùng luật pháp và những mặt tích cực vẫn được phát huy giá trị trong quản lý xã hội. Già làng chính là người nắm trong tay cán cân quyền năng đó và những điều luật tục quy định đã tạo nên quyền lực của già làng. Điều đặc biệt, quyền uy của già làng không mang tính bạo lực, cường quyền mà nó tự nhiên đến, tự nhiên được cộng đồng chọn trao bởi lòng ngưỡng mộ, tôn kính.

Qua nghiên cứu về luật tục, chúng tôi cảm nhận, việc điều hành xã hội bằng luật tục trong thiết chế cổ truyền là một biểu hiện độc đáo của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Khi chưa có luật pháp, công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội chính là hệ thống tập quán pháp này. Ðó là một hệ thống văn bản truyền miệng bằng văn vần chế định tất cả mọi phương diện của đời sống xã hội và được cả cộng đồng triệt để chấp hành. Như đã nói, người chỉ huy toàn bộ sự tuân thủ hệ thống luật tục của cộng đồng chính là già làng. Bởi vậy, có thể nói, mỗi già làng là một kho báu về tri thức bản địa, kinh nghiệm sản xuất và ứng xử, là kết tinh tất cả sự cao quý và giỏi giang của một người đàn ông tài hoa trong bộ tộc. Ngày xưa, khi chưa có cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể thì tất cả chuyện lớn, chuyện nhỏ trong buôn làng đều do một tay già làng phán quyết. Từ chuyện trộm gà, mất lợn, tranh chấp đất đai, vợ chồng cãi nhau, con cái vô lễ với cha mẹ,… người dân đều tìm đến nhờ già làng phán xử.

3. Già làng cũng từng là nhân vật thay mặt cộng đồng quyết định mọi cuộc tiếp xúc, mọi sự thỏa thuận. Thời xưa, tiếng nói của già làng không phải là tiếng nói duy nhất nhưng có giá trị cao nhất của buôn làng. Vì vậy, các nhà cai trị khi tiếp cận với Tây Nguyên thì thường chọn con đường đầu tiên là gặp gỡ, kết thân với các già làng. Vương quốc Chăm Pa hay triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp hay đế quốc Mỹ đều có chung thủ đoạn; chỉ đến khi việc “kết nghĩa” với các già làng không thành, không đạt được mục đích thì các thế lực xâm lăng mới dùng tới súng đạn.

Già làng, nhân tố quan trọng trong việc trao truyền vốn văn hóa truyền thống.

Hồi đầu thế kỷ 20, các nhà khảo cứu dân tộc học, nhất là các vị người Pháp, khi tiếp cận văn hóa Tây Nguyên, những nhân vật đầu tiên ở các buôn làng mà họ cần tiếp xúc, xin phép tìm hiểu chính là già làng. Tham khảo tài liệu của các học giả như H.Maitre, G.Condominas, Sabatier, J.Dournes, Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, rồi sau này là Phan Đăng Nhật, Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Đức Thịnh, Tô Ngọc Thanh…, hầu như trong mỗi câu chuyện đều hiện lên những cuộc giao lưu với các vị già làng. Già làng chính là người mở cánh cửa buôn làng, cánh cửa văn hóa tộc người bằng sự hiểu biết hệ thống tri thức bản địa sâu sắc, bằng cách ứng xử bặt thiệp, hiền minh. Bởi vậy, khi chưa chung bếp lửa, chưa chung cần rượu say ngả say nghiêng, chưa chung píp thuốc phà khói mù trời với già làng thì đừng nói đến việc dừng chân mà hỏi chuyện với bất cứ người dân nào trong buôn.

Viết báo ở vùng Tây Nguyên, bản thân chúng tôi cũng thấu hiểu điều đó. Sẽ chưa thể là khách quý của buôn làng khi chưa được già làng thân thiện dắt tay ra đứng dưới gốc cây nêu trong ánh mắt gần gũi, cởi mở dần của những người dân đang thấp thoáng trong các cửa sổ nhà dài…

 Uông Thái Biểu
 

Ý kiến của bạn