Với dân tộc Việt Nam, mùa xuân còn gắn liền với những bước ngoặt lịch sử, những cuộc đổi thay lớn lao của đất nước, từ mùa xuân giành độc lập đến mùa xuân kiến thiết và dựng xây. Qua mỗi chặng đường lịch sử, mùa xuân trong thơ ca Việt Nam không ngừng được làm mới, mang theo dấu ấn của thời đại, của tâm hồn nghệ sĩ và khát vọng dân tộc.
Mùa xuân trong thơ giai đoạn đầu thế kỷ 20 vẫn mang dáng dấp truyền thống của thi ca trung đại, phảng phất nỗi niềm của người dân mất nước nhưng bắt đầu nhuốm màu tâm trạng cá nhân và ý thức dân tộc.
Nếu ở Tản Đà, mùa xuân vừa phóng khoáng, tài tử, vừa ẩn chứa nỗi buồn thời thế, cảnh xuân đẹp nhưng lòng người không yên, bởi phía sau sắc xuân vẫn là nỗi đau mất nước thì đến Phan Bội Châu, dù đang bị thực dân Pháp giam cầm nhưng qua “Bài ca chúc Tết thanh niên”, ông đã mở ra một mùa xuân thanh tân và tràn đầy hy vọng: “Dậy! Dậy! Dậy!/ Bên án một tiếng gà vừa gáy/ Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng/ Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?/ … Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội/ Ghé vai vào xốc vác cựu giang sơn”. Trong những vần thơ yêu nước đầu thế kỷ, mùa xuân thường gắn với hình ảnh thức tỉnh dân trí, khơi dậy tinh thần đấu tranh, như một lời nhắn gửi về ngày mai đổi mới.
Trong dòng chảy thi ca hiện đại, nhắc đến mùa xuân, không thể không nhắc tới phong trào Thơ mới (1932–1945) – giai đoạn mà hình tượng mùa xuân được khai thác với chiều sâu cảm xúc cá nhân và bút pháp nghệ thuật tinh tế nhất.
Các nhà thơ như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính… đã để lại những áng thơ xuân đặc sắc, mỗi người một vẻ. Với Xuân Diệu, mùa xuân là biểu tượng của tuổi trẻ, tình yêu và khát vọng sống mãnh liệt; mùa xuân đẹp rực rỡ nhưng mong manh, khiến con người vừa say đắm vừa lo âu trước bước đi của thời gian vội vã.
Hàn Mặc Tử lại mang đến một mùa xuân vừa trong trẻo vừa đau đớn, nơi cái đẹp hòa lẫn với số phận bi kịch nên mang đậm dấu ấn siêu thực: “Xuân trẻ, xuân non, xuân lịch sự/ Tôi đều nhận thấy trên môi em/ Làn môi mong mỏng tươi như máu/ Đã khiến môi tôi mấp máy thèm” (Gái quê).
Đến Nguyễn Bính, với hồn thơ chân quê, ông đã khắc họa mùa xuân nơi làng quê Bắc Bộ mộc mạc, trữ tình và gắn với phong tục, lễ Tết đồng thời cũng thấm đẫm nỗi buồn thầm lặng của phận người con gái: “Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay/ Hoa xoan đã nát dưới chân giày/ Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ/ Mẹ bảo mùa xuân đã cạn ngày” (Mưa xuân). Mùa xuân trong Thơ mới vì thế là mùa xuân của cái tôi cá nhân, của khát vọng yêu thương và cảm thức nhân sinh sâu sắc.
![]() |
| Đồng bào Tây Nguyên mừng lễ hội mùa xuân giàu màu sắc. Ảnh tư liệu |
Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, hình tượng mùa xuân trong thơ Việt Nam càng thêm rực rỡ, hào hùng, trở thành biểu tượng gắn liền với vận mệnh Tổ quốc và sự sống còn của dân tộc. Trong thơ Hồ Chí Minh, mùa xuân mang vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại, thể hiện tư thế ung dung, lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Bài thơ “Nguyên tiêu” (Rằm tháng Giêng) được viết năm 1948 đã mở ra một bức tranh xuân nơi chiến khu Việt Bắc thật nên thơ qua cái nhìn tự tại của Bác với tư thế là lãnh tụ đang cầm lái con thuyền cách mạng. Đó là bức tranh mùa xuân của niềm tin chiến thắng và hi vọng tràn đầy, dù cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở giai đoạn khởi đầu khó khăn, gian khổ nhất: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi/ Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân/ Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền” (Bản dịch của Xuân Thủy). Đặc biệt trong thơ Tố Hữu, cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, mùa xuân gắn liền với Đảng, với cách mạng và con đường đi lên “hạnh phúc rộng thênh thênh” của Tổ quốc.
Sau năm 1975, khi Tổ quốc thống nhất hai miền Nam Bắc, với “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, hình ảnh mùa xuân trở thành biểu tượng của sự cống hiến thầm lặng, của khát vọng được hòa mình vào mùa xuân rộng lớn của đất nước. Từ đó, mùa xuân trong thơ cách mạng vừa mang tầm vóc sử thi, vừa thấm đẫm chất trữ tình nhân văn sâu sắc: “Một mùa xuân nho nhỏ/ Lặng lẽ dâng cho đời/ dù là tuổi hai mươi/ Dù là khi tóc bạc…”
Đến nay, mùa xuân trong thơ ca hiện đại Việt Nam vừa rợp bóng bao trùm trên thi đàn dân tộc, vừa tự mình rẽ thành nhiều dòng chảy, tỏa lan qua những vùng miền khác nhau của đất nước. Có sắc xuân trầm lắng, lãng mạn và nên thơ của miền Bắc; có dáng xuân hiền hòa và không kém phần dào dạt như sóng biển miền Trung; và cũng có bóng dáng mùa xuân hùng tráng, huyền ảo hòa trong nhịp cồng chiêng của núi rừng Tây Nguyên huyền thoại, đêm đêm vọng vang bên bếp lửa nhà sàn.
Trong đó, các nhà thơ Đắk Lắk như Hữu Chỉnh, Đặng Bá Tiến, Phạm Doanh, Bùi Minh Vũ, Nguyễn Duy Xuân, Tạ Văn Sỹ, Ngô Thanh Vân, Trần Phố… đã góp thêm những sắc thái riêng cho hình tượng mùa xuân gắn với núi rừng và đời sống cộng đồng các dân tộc ở chiều sâu văn hóa bản địa. Như vẻ đẹp giao mùa của buôn làng lúc xuân sang trong tác phẩm “Nét xuân Tây Nguyên” của Đặng Bá Tiến: “lúa, cà phê đã êm giấc trên sàn/ ngô đã nằm đầy gian ba gian bảy/ thì ay-ray cứ thỏa lòng luyến láy/ thì tay ấp tay người mà mê đắm nhịp xoang”. Mùa xuân trong thơ Bùi Minh Vũ không ồn ào, mà lắng sâu, gợi cảm giác hồi tưởng, chiêm nghiệm; với những câu thơ xuân gắn với ký ức về đất đỏ, về rừng cà phê, về những buổi sáng cao nguyên se lạnh, nơi con người nhận ra giá trị của sự gắn bó, của niềm tin và hy vọng sau những gian truân: “Mưa trôi mặt trời/ Không trôi giọt mồ hôi mẹ/ Mưa trôi giấc mơ cất trên chòi lúa/ Nảy mầm dọc suối mùa xuân” (Mùa xuân).
Đặc biệt, với nhà thơ Hữu Chỉnh, mùa xuân nơi đại ngàn Tây Nguyên là mùa xuân của “hạnh phúc bắc cầu”. Với ông, cái nhìn nồng nàn, yêu thương và trìu mến trước mỗi lễ hội, mỗi tiếng chiêng ngân và hình tượng con người đều mang lại cảm xúc đắm say và rạo rực, khiến người đọc như trôi vào niềm mê đắm miên man: “Phập phồng núm chiêng giấu ngực/ Thả vào lễ hội mùa xuân/ Em gái Tây Nguyên rạo rực/ Trôi theo tiếng hát trong ngần…/ Men lá cũng say cho rượu cần chếnh choáng/ Mắt đa tình lúng liếng trao nhau/ Lời hò hẹn được thần linh chứng giám/ Lễ hội mùa xuân – hạnh phúc bắc cầu” (Hạnh phúc bắc cầu). Nhà thơ không chỉ tái hiện một bức tranh lễ hội mùa xuân Tây Nguyên giàu màu sắc cảm giác, mà còn kiến tạo nên một không gian biểu tượng nơi hạnh phúc được hình dung như một sự “bắc cầu” giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng và giữa đời sống trần thế với thế giới tâm linh. Mùa xuân ở đây không còn là thời điểm của tự nhiên mà trở thành khoảnh khắc hội tụ của sự sống, của khát vọng yêu thương và niềm vui tồn sinh mang tính nguyên sơ, bản thể.
Từ mùa xuân giao thời đầu thế kỷ 20, mùa xuân lãng mạn của Thơ mới, đến mùa xuân cách mạng và mùa xuân qua những vùng miền đất nước, mỗi sắc xuân đều góp phần tạo nên một diện mạo thơ Việt phong phú, đa thanh mà thống nhất. Qua hình tượng mùa xuân, thơ ca hiện đại Việt Nam gửi gắm niềm tin bền bỉ vào con người, vào đất nước và tương lai, để mùa xuân không chỉ là mùa của đất trời, mà còn là nhịp mùa vĩnh cửu trong tâm hồn dân tộc.
Thành Văn

