Động lực tạo sự thay đổi vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta qua các kỳ đại hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, tư duy về công tác dân tộc đã có những đột phá, chuyển từ hỗ trợ sang kiến tạo phát triển, tạo động lực thay đổi diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Với 44 dân tộc anh em cùng sinh sống, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 25,4% dân số, tỉnh Đắk Lắk đã dành sự quan tâm, nguồn lực để biến những chủ trương, quyết sách dân tộc thành những con đường, ngôi trường khang trang và những mô hình sinh kế bền vững làm thay đổi căn bản diện mạo các buôn làng.  

Nhất quán và đột phá trong chủ trương, chính sách dân tộc

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định vấn đề dân tộc là nội dung trọng yếu của chiến lược cách mạng. Trải qua các kỳ đại hội, Đảng ta liên tục nhấn mạnh mục tiêu: “Đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng đất nước”. Chương trình 135 (giai đoạn I, II, III) đã tập trung nguồn lực để đầu tư hạ tầng thiết yếu cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, giúp hàng triệu người dân tiếp cận với điện lưới, nước sạch và giáo dục.  

Cánh đồng lúa 2 vụ đã đem đến đời sống ấm no hơn cho đồng bào dân tộc thiểu số buôn Trưng, xã Cư Yang.

Đặc biệt, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã xác định công tác dân tộc phải gắn liền với việc “khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, giá trị văn hóa và khát vọng phát triển”. Trên cơ sở đó, Quốc hội khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể và Nghị quyết số 120/2020/QH14 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Đây là một quyết sách mang tính đột phá bởi đã tích hợp hơn 100 chính sách dân tộc riêng lẻ trước đây vào một chương trình duy nhất với 10 dự án thành phần nhằm khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo nguồn lực, bảo đảm tính tập trung và hiệu quả trong tổ chức thực hiện.  

 

Đến năm 2025, toàn tỉnh có 1 xã và 65 thôn được đưa ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn; có 1 xã khu vực III, 4 xã khu vực II và 52 xã khu vực I đạt chuẩn nông thôn mới. Giai đoạn 2021 - 2025, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh giảm trung bình 4,47%/năm.

Điểm đặc biệt nhất của chính sách dân tộc tại Đại hội XIII là sự thay đổi về chủ trương hỗ trợ từ “cho con cá” sang “trao cần câu” và “dạy cách câu”. Thay vì hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt hay vật phẩm tiêu dùng, phần lớn nguồn lực được tập trung vào việc hoàn thiện hạ tầng, tạo sinh kế bền vững, hỗ trợ vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, đào tạo nghề và kết nối thị trường. Điều này buộc người dân phải thay đổi tư duy, từ bỏ tâm lý trông chờ, ỷ lại để chủ động vươn lên thoát nghèo bền vững.  

Luồng sinh khí mới bừng sáng buôn làng

Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh Đắk Lắk có 152 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 66 xã khu vực III, 6 xã khu vực II, 80 xã khu vực I; 507 thôn, buôn đặc biệt khó khăn.

Nhằm thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản về công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc; thành lập ban chỉ đạo chung và các kế hoạch triển khai thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia gồm: xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giai đoạn 2021 - 2030.

Trong 5 năm (2021 - 2025), tỉnh Đắk Lắk được ngân sách Trung ương phân bổ 6.837 tỷ đồng để thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia. Bên cạnh đó, tỉnh đã chủ động cân đối, bố trí nguồn ngân sách địa phương đối ứng hơn 1.688 tỷ đồng. Nguồn lực to lớn này đã tạo ra những thay đổi rõ rệt cho vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh.

Được hỗ trợ các nguồn lực, gia đình ông Y Yêm Niê ở buôn Pốk A, xã Quảng Phú đã vươn lên thoát nghèo.

Buôn Trưng là buôn căn cứ cách mạng của xã Cư Yang, được hình thành trong kháng chiến chống Mỹ với mật danh H1. Từng bị quân địch càn quét, tàn phá dữ dội, sau ngày giải phóng, buôn Trưng đối diện với bao khó khăn, thiếu thốn. Sự quan tâm đầu tư từ nhiều chính sách, chương trình của Đảng, Nhà nước, địa phương như: Chương trình 132, 134, 135, 167, 1719... đã giúp buôn Trưng “thay da đổi thịt”.

Buôn đã có nhà sinh hoạt cộng đồng, điểm trường mầm non và tiểu học; trên 80% tuyến đường nội buôn đã được nhựa hóa, bê tông hóa, đường điện thắp sáng mọi nơi. Đập buôn Trưng cũng được đầu tư xây dựng, đáp ứng phần nào nhu cầu nước tưới cho sản xuất. Bà con được cấp cây, con giống, hỗ trợ, hướng dẫn cải tạo vườn tạp, mở rộng chăn nuôi, sản xuất lúa 2 vụ. Nhà cửa trong buôn được xây dựng khang trang, kiên cố, nhiều hộ khá giả hơn trước, mua sắm xe cộ, máy móc, thiết bị hiện đại. Con cháu trong buôn được đến trường học chữ. Bà con đoàn kết, cùng nhau thi đua lao động sản xuất xây dựng buôn Trưng ngày càng giàu đẹp.

Chính sách dân tộc không chỉ dừng lại ở việc tạo ra sự thay đổi diện mạo của những buôn làng mà quan trọng hơn là việc thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong phát triển kinh tế của đồng bào dân tôc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Đơn cử như gia đình ông Y Yêm Niê ở buôn Pốk A, xã Quảng Phú, vì ít đất sản xuất, thiếu vốn, không có nghề nghiệp ổn định, gia đình ông lâm vào cảnh đói nghèo triền miên. Thay vì cấp muối, cấp gạo, hỗ trợ tiền như trước, Nhà nước, địa phương đã hỗ trợ gia đình ông xây dựng nhà ở, cho vay 30 triệu đồng vốn ưu đãi để chăm sóc 2 sào cà phê, cấp 2 con bò sinh sản. Vợ chồng ông bảo ban nhau chăm chỉ làm ăn. Đến năm 2024, gia đình ông đã vươn lên hộ cận nghèo và thoát nghèo vào năm 2025.

Nguyễn Xuân

Ý kiến của bạn