Địa danh "Xứ Nẫu" và Buôn Ma Thuột
Mỗi địa danh là một di sản văn hóa. Mỗi địa danh là một “đài kỷ niệm”, một tấm bia bằng ngôn ngữ độc đáo. Những đặc điểm về địa lý, lịch sử, văn hóa, những biến cố chính trị, xã hội của một vùng đất đều được phản ảnh qua địa danh.
Phú Yên - xứ Nẫu, vì sao?
Cuối thế kỷ 16, bước chân của Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh cùng hơn 3.000 lưu dân đã khai khẩn vùng đất từ Cù Mông đến đèo Cả, dần hình thành làng mạc. Để năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng chính thức lập phủ Phú Yên, trực thuộc thừa tuyên Quảng Nam. Trong giai đoạn này, cơ cấu hành chính vùng biên viễn có nhiều nét đặc thù. Dưới cấp huyện tồn tại các đơn vị, như: “thuộc”, “phường”, “man” và đặc biệt là “nậu”.
“Nậu” khi ấy là đơn vị quản lý những nhóm người cùng nghề, do “đầu nậu” đứng đầu. Ví dụ: “nậu nguồn” chuyên khai thác rừng, “nậu nại” làm muối, “nậu rớ” đánh cá nước lợ, “nậu cấy” đi cấy mướn, “nậu rổi/rẩu” mua bán cá, “nậu vựa” làm nước mắm… Sách Đại Nam thực lục tiền biên ghi: “Nậu, nguyên nghĩa là làm cỏ ruộng, rồi chỉ làng xóm, sau nữa thành đơn vị hành chính quản lý nhóm người cùng nghề”.
Đến thế kỷ 18, khi chúa Nguyễn Phúc Chú cải tổ bộ máy, các đơn vị “nậu”, “thuộc”, “man” bị bãi bỏ. Tuy nhiên, “nậu” không mất đi mà lặng lẽ chuyển hóa, đi vào đời sống dân gian. Từ “nậu” vừa dùng để chỉ người đứng đầu - “đầu nậu”, vừa xuất hiện trong ca dao, tục ngữ: “Mất chồng như nậu mất trâu/ Chạy lên chạy xuống cái đầu chơm bơm...”.
Cùng với thời gian, “nậu” tiếp tục biến đổi trong ngôn ngữ. Phương ngữ Phú Yên - Bình Định có xu hướng rút gọn đại từ ngôi ba: ông ấy/bà ấy thành “ổng”/“bả”, anh ấy/chị ấy thành “ảnh”/“chỉ”. “Nậu” theo đó biến thành “nẩu”. Đặc trưng ngữ âm duyên hải Nam Trung Bộ lại không phân biệt rõ dấu hỏi - ngã, khiến “nẩu” dần đọc thành “nẫu”.
Từ “nẫu” vì thế mang nhiều lớp nghĩa. Trong giao tiếp đời thường, nó có thể linh hoạt thay thế cho cả ba ngôi nhân xưng. Ví dụ: “Nẫu nói như vậy thôi, chớ nẫu chưa đồng ý” (tôi/chúng tôi); “Hôm qua nẫu hứa qua, mà nẫu không qua” (anh, em, các anh, các chị); “Ngoài kia, nẫu đồn ầm lên rồi!” (họ/người ta).
Ca dao cũng ghi lại sắc thái thân thương của “nẫu”: “Thương chi cho uổng tình/ Nẫu về xứ nẫu bỏ mình bơ vơ”.
Dần dần, “nẫu” vượt khỏi vai trò một đại từ. Nó trở thành dấu hiệu nhận diện phương ngữ, chỉ cần nghe một tiếng “nẫu” là người ta biết ngay giọng Phú Yên, Bình Định. Đặc biệt, khi nhạc sĩ Phan Bá Chức ký âm dân ca Trách phận - còn gọi là “Nẫu ca” (phần lời do Nguyễn Hữu Ninh, phường Hòa Hiệp, sưu tầm), “nẫu” chính thức bước vào không gian văn nghệ dân gian.
Từ đó, Phú Yên được gọi bằng một cái tên gần gũi: xứ Nẫu. Người dân tự hào nhận mình là “người Nẫu”, còn du khách nhớ đến Phú Yên cũng nhớ luôn cái chất “nẫu” hồn hậu, chất phác - thứ bản sắc được chắt lọc qua lịch sử, ngôn ngữ và đời sống cộng đồng.
Ý nghĩa địa danh Buôn Ma Thuột
Khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh và xã, phường) được triển khai, nhiều địa danh hành chính cấp huyện, thị, thành phố không còn tồn tại. Tuy nhiên, các địa danh lịch sử vẫn hiện hữu trong đời sống xã hội. Buôn Ma Thuột là một địa danh như thế - quen thuộc và mang nhiều tầng ý nghĩa trong chiều sâu cội nguồn văn hóa của vùng đất và con người Tây Nguyên.
![]() |
| Ngã sáu Buôn Ma Thuột được mệnh danh là “trái tim của Tây Nguyên”. Ảnh: Trần Quới |
Theo tiếng Êđê, “buôn” nghĩa là làng, “Ama” là cha. “Ama Thuột” được hiểu là “cha của Thuột”, và Buôn Ma Thuột chính là “buôn làng của cha Thuột”. Khi người Pháp đặt chân đến đây đầu thế kỷ 20, địa danh này được ghi chép với nhiều biến thể như Ban-Mé-Thuot, Ban Mê Thuột, Buôn Ma Thuột… Trải qua hơn một thế kỷ, dù tên gọi có biến thể, cốt lõi vẫn quy về một nhân vật: tù trưởng Ama Thuột.
Ama Thuột là ai, đến nay vẫn là câu hỏi chưa có lời giải trọn vẹn. Một số tài liệu Pháp đầu thế kỷ 20 mô tả ông là già làng giàu có, có ngôi nhà dài lớn bên suối Ea Tam. Tác giả người Pháp, Roland Dorgelès (1944) viết: Ama Thuột, thuộc bộ tộc Rhadé Kpa, trước khi Pháp chiếm đóng, là trưởng một làng bên bờ Ea Tam. Những nhà thám hiểm đầu tiên đã tự nhiên gọi nó là Buôn Ma Thuột, nghĩa là làng của cha Thuột”.
Trong ký ức của người Êđê, Ama Thuột là thủ lĩnh có uy tín, biết quy tụ cộng đồng. Có tài liệu cho rằng, ông tên thật là Y Mun H’Dơk, không có con ruột nhưng nhận nuôi 5 người con. Dưới thời ông, buôn làng bên suối Ea Tam từng có khoảng 50 nhà dài, là trung tâm đông đúc, phồn thịnh của vùng.
![]() |
| Chị Lê Thị Lý (phường Buôn Ma Thuột), người chuyên sưu tầm cổ vật văn hóa Tây Nguyên, sưu tầm bức ảnh của Ama Thuột trong bảo tàng tư nhân của mình. Ảnh: Trần Quới |
Tuy vậy, nhiều chi tiết về cuộc đời Ama Thuột vẫn còn tranh cãi: vai trò của ông trong quan hệ với chính quyền thực dân Pháp, hoàn cảnh qua đời, nơi an táng… đều chưa được xác nhận rõ ràng. Các tài liệu sưu tầm từ thư viện quốc gia Pháp cho thấy Ama Thuột là nhân vật có thật, song cũng để lộ nhiều khoảng trống lịch sử.
Chính sự “hư thực đan xen” ấy khiến Ama Thuột trở thành một biểu tượng đặc biệt - vừa là nhân vật lịch sử, vừa là huyền thoại văn hóa. Việc tìm hiểu nguồn gốc địa danh Buôn Ma Thuột không chỉ giúp nhận diện quá khứ, mà còn góp phần gìn giữ, tôn vinh bản sắc Tây Nguyên - nơi mỗi buôn làng là một trang sử sống.
Buôn Ma Thuột, suy cho cùng, vẫn là “buôn làng của cha Thuột”. Đó là giá trị bền vững nhất, kết nối quá khứ với hiện tại, làm nên bản sắc của “trái tim Tây Nguyên”.
Quỳnh Mai - Ba Đà Rằng































Ý kiến bạn đọc